Showing posts with label athena. Show all posts
Showing posts with label athena. Show all posts

Tuesday, May 21, 2013

The Mark of Athena _ Chương 22

Dấu hiệu Athena

Chương 22

Leo


cover

HỌ ĐỨNG TRONG SÂN TRONG CỦA MỘT KHU NHÀ KHÉP KÍN, như kiểu một tu viện. Những bức tường gạch đỏ được cây leo phủ kín. Những cây mộc lan mọc nứt cả gạch lát. Mặt trời chiếu ánh nắng chói chang và độ ẩm thì khoảng hai trăm phần trăm, thậm chí còn ẩm ướt hơn cả Houston. Từ đâu đó gần đấy, Leo ngửi thấy mùi cá đang rán. Trên đầu, màn mây thấp và xám xịt, vằn vện như lông hổ.

Khoảnh sân lớn cỡ một sân bóng rổ. Một quả bóng đá cũ xì hơi nằm lăn lóc một góc, dưới chân một bức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh.

Dọc theo những tòa nhà, các cửa sổ đều mở. Leo có thể thấy thấp thoáng những cử động bên trong, nhưng mọi thứ lại im lặng một cách kì quái. Cậu không thấy dấu hiệu gì của máy điều hòa không khí, có nghĩa là bên

Sunday, May 19, 2013

The Mark of Athena _ Chương 21

The Mark of Athena


Dấu hiệu Athena


Chương 21


Leo


a2



SAU KHI LÙNG SỤC MỘT BẢO TÀNG ĐẦY NHÓC NHỮNG HỒN MA PHE LIÊN MINH, Leo không nghĩ ngày hôm đó có thể tệ hơn được nữa. Cậu đã nhầm.

Họ chẳng tìm thấy gì trong chiếc tàu ngầm thời Nội Chiến hay trong bảo tàng; chỉ có vài du khách già cả, một ông bảo vệ gà gật, và – khi họ cố khám nghiệm mấy hiện vật--cả một tiểu đoàn những anh chàng thây ma phát sáng trong quân phục màu xám.

Còn cái ý tưởng rằng Frank sẽ điều khiển được đám hồn ma? Ờ...cái đó khá là thất bại. Lúc Piper gửi tin nhắn Iris cảnh báo về vụ tấn công của đám người La Mã, họ đã về tàu được nửa đường rồi, đang bị một đám xác chết quân Liên Minh giận dữ rượt khắp phố chính Charleston.

Rồi--ố, mèn ơi!--Leo phải làm một chuyến bay với Chàng Đại Bàng Thân Thiện Frank, để họ có thể đấu với một đám người La Mã. Hẳn là cái tin đồn rằng Leo là người đã nổ súng vào thành phố bé nhỏ của họ đã được lan truyền rộng rãi, bởi vì đám người La Mã kia có vẻ đặc biệt sốt sắng muốn giết cậu.

Nhưng hãy khoan! Vẫn còn nữa! HLV Hedge bắn họ rớt khỏi không trung; Frank đánh rơi cậu (không phải do sơ suất đâu ạ); và họ hạ cánh khẩn cấp xuống đồn Sumter.

Lúc này, trong khi tàu Argo II đang lao băng băng trên những ngọn sóng, Leo phải vận dụng hết kĩ năng của mình chỉ để giữ cho con tàu được nguyên vẹn. Percy và Jason hơi quá giỏi trong việc chế biến những cơn bão khổng lồ.

Một lúc, Annabeth đứng cạnh cậu, gào lên đua với tiếng rít gào của gió: "Percy bảo cậu ấy đã nói chuyện với một Nereid ở bến cảng Charleston!"

"Tốt cho cậu chàng!" Leo gào lên đáp.

"Cô Nereid đó nói bọn mình nên tìm sự trợ giúp chỗ các anh em của Chiron[0]."

"Vậy nghĩa là sao? Các bé Ngựa Nhí Tiệc Tùng à?" Leo chưa gặp đám họ hàng nhân mã điên khùng của Chiron, nhưng cậu đã từng nghe đồn về những trận đấu kiếm Nerf[1], những cuộc thi nốc bia rễ cây[2], và súng phun nước Super Soaker[3] được nạp đầy kem tươi nén.

"Không chắc nữa," Annabeth đáp. "Nhưng mình có tọa độ đây. Cậu có nhập được kinh độ và vĩ độ vào thứ này không?"

"Nếu cậu muốn, mình có thể nhập bản đồ chòm sao và gọi cho cậu một cốc sinh tố. Dĩ nhiên là mình biết nhập kinh độ và vĩ độ rồi!"

Annabeth liến láu đọc dãy số ra. Leo xoay sở cách nào đó mà nhập được dãy số đó vào trong khi cầm bánh lái bằng một tay. Một chấm đỏ hiện ra trên màn hình biểu thị bằng đồng.

"Vị trí đó nằm ở giữa Đại Tây Dương," cậu nói. "Mấy bé Ngựa Nhí Tiệc Tùng này có du thuyền à?"

Annabeth bất lực nhún vai. "Cứ giữ cho con tàu được nguyên vẹn cho tới khi bọn mình đi xa khỏi Charleston hơn nhé. Percy và Jason sẽ cho mấy trận gió tiếp nữa đấy!"

"Giờ chơi vui vẻ nhé!"

Cứ như cả tỉ năm đã trôi qua, nhưng cuối cùng thì biển cũng lặng và gió cũng ngừng.

"Valdez," HLV Hedge gọi, bằng giọng dịu dàng đến đáng ngạc nhiên. "Để ta cầm lái cho. Trò đã cầm lái suốt hai tiếng rồi."

"Hai tiếng ạ?"

"Ừ, đưa bánh lái cho ta nào."

"Huấn luyện viên?"

"Gì thế, nhóc?"

"Em không nhả tay ra được."

Thật sự là thế. Ngón tay của Leo có cảm giác như đã hóa đá vậy. Mắt cậu rát vì nhìn quá lâu về phía chân trời. Đầu gối cậu nhũn như kẹo dẻo. HLV Hedge xoay xở cậy được cậu ra khỏi bánh lái.

Leo nhìn bảng điều khiển một cái cuối cùng, nghe tiếng Festus thì thầm kẽo kẹt báo cáo trạng thái. Leo có cảm giác cậu đã quên một chuyện gì đó. Cậu nhìn chằm chằm mấy nút điều khiển, cố gắng suy nghĩ, nhưng chẳng ích gì. Mắt cậu khó mà tập trung được. "Thầy phải coi chừng bọn quái vật," cậu bảo vị huấn luyện viên. "Và cẩn thận với bộ thăng bằng bị hỏng. Và--"

"Ta xử lí được," HLV Hedge hứa. "Giờ thì, đi đi!"

Leo mệt mỏi gật đầu. Cậu lảo đảo băng qua boong tàu đi về phía các bạn cậu.

Percy và Jason ngồi dựa vào cột buồm, đầu hai người gục xuống vì kiệt sức. Annabeth và Piper đang cố cho họ uống ít nước.

Hazel và Frank đứng ngoài tầm nghe, đang có một cuộc tranh luận với rất nhiều cái vung tay và lắc đầu. Lẽ ra Leo không nên cảm thấy hài lòng vì điều đó, nhưng một phần trong cậu lại có cảm giác ấy. Phần còn lại trong cậu cảm thấy tồi tệ vì cậu thấy hài lòng.

Cuộc tranh luận đột ngột dừng lại khi Hazel nhìn thấy Leo. Mọi người tụ tập lại chỗ cột buồm.

Frank nhíu mày như thể cậu ta đang cố biến thành một con chó bun[4]. "Không có dấu hiệu của sự truy đuổi," cậu nói.

"Hay đất liền." Hazel bổ sung. Trông cô hơi xanh xao, dù Leo không chắc đó là do sự lắc lư của con tàu hay do trận tranh cãi lúc nãy.

Leo quét mắt nhìn về phía chân trời. Không có gì ngoài mặt biển bao vây bốn phía. Điều đó lẽ ra không nên khiến cậu ngạc nhiên mới phải. Cậu đã mất công sức sáu tháng trời để dựng nên một con tàu mà cậu biết là sẽ vượt Đai Tây Dương. Nhưng mãi cho tới tận hôm nay, việc bọn họ dấn thân vào một hành trình tới những vùng đất cổ xưa vẫn chẳng có vẻ gì là chân thực cả. Trước đó, Leo chưa từng ra khỏi nước Mỹ, ngoại trừ một chuyến bay ngắn cưỡi rồng đến Québec. Giờ họ đang ở giữa biển khơi rộng lớn, hoàn toàn cô độc, dong buồm về phía Mare Nostrum, quê hương của tất cả những quái vật đáng sợ và những tên khổng lồ xấu xa. Có thể, đám người La Mã không bám theo họ được thật, nhưng họ cũng không thể nhờ cậy vào sự trợ giúp của Trại Con Lai được.

Leo vỗ vỗ thắt lưng để chắc chắn rằng cái đai dụng cụ của cậu vẫn còn đấy. Rủi thay, làm vậy chỉ khiến cậu nhớ đến cái bánh quy may mắn của Nemesis, được nhét vào một ngăn túi.

Cậu sẽ luôn là kẻ ngoài cuộc. Giọng nói của nữ thần vẫn len lỏi trong đầu cậu. Bánh xe thứ bảy.

Quên bà ta đi, Leo tự nhủ. Tập trung vào những thứ mày có thể sửa chữa.

Cậu quay sang Annabeth. "Cậu đã thấy tấm bản đồ cậu muốn tìm chưa?"

Cô gật đầu, dù trông cô tái nhợt. Leo thắc mắc không biết cô đã nhìn thấy gì ở đồn Sumter mà lại có thể khiến cô bị rung động mạnh đến thế.

"Mình sẽ phải nghiên cứu nó," cô nói, như thể chủ đề này chấm dứt ở đó. "Bọn mình còn cách mấy tọa độ đó bao xa?"

"Đi với tốc độ tối đa thì còn một giờ." Leo đáp. "Có ý tưởng gì về thứ bọn mình đang tìm không?"

"Không." Cô thừa nhận. "Percy?"

Percy ngẩng đầu, cặp mắt xanh của cậu đầy tia máu và díu lại. "Cô Nereid đó nói những người anh em của Chiron ở đó, và họ muốn nghe về khu thủy cung ở Atlanta kia. Mình không biết cô ấy có ý gì, nhưng..." Cậu dừng lại, như thể cậu đã vét hết năng lượng để nói bấy nhiêu. "Cô ấy cũng cảnh báo mình phải cẩn thận. Keto, bà nữ thần ở khu thủy cung: Bà ta là mẹ của các thủy quái. Có thể bà ta bị kẹt ở Atlanta, nhưng bà ta vẫn có thể phái đám con cái của bà ta đuổi theo chúng ta. Những Nereid nói rằng chúng ta nên đề phòng một cuộc tấn công."

"Tuyệt vời," Frank lầm bầm.

Jason cố đứng dậy, chẳng phải một ý hay. Piper túm lấy cậu để cậu khỏi lộn nhào, và cậu trượt xuống trở lại chỗ cột buồm.

"Bọn mình có cho con tàu cất cánh được không?" Cậu hỏi. "Nếu bọn mình có thể bay--"

"Được thế thì còn gì bằng," Leo nói. "Chỉ trừ mỗi chuyện Festus bảo với mình rằng bộ thăng bằng trên không đã bị nghiền thành cám lúc con tàu quẹt vào cầu cảng ở đồn Sumter."

"Lúc đó bọn mình đang khẩn trương mà," Annabeth nói. "Đang cố cứu cậu."

"Và cứu mình là một lý do vô cùng cao cả," Leo đồng ý. "Mình chỉ nói là, sẽ phải mất ít thời gian để sửa nó. Cho tới lúc đó, bọn mình không có bay bổng gì cả."

Percy vươn vai và nhăn mặt. "Với mình thì ổn. Biển cũng tốt."

"Đấy là với anh thôi." Hazel nhìn vầng thái dương buổi chiều đang sắp xuống tới đường chân trời. "Bọn mình phải đi nhanh. Ta đã tiêu thêm một ngày nữa và Nico chỉ còn có ba ngày."

"Bọn mình sẽ làm được mà." Leo hứa. Cậu hy vọng Hazel đã tha thứ cho cậu vì đã không tin tưởng em trai cô (này, với Leo thì đó có vẻ là một sự nghi ngờ hợp lý mà) , nhưng cậu không muốn rạch lại vết thương cũ đó. "Bọn mình có thể đến được Rome trong vòng ba ngày--giả như, em biết đấy, không có chuyện gì đột ngột xảy ra."

Frank cười gằn. Trông cậu ta như thể cậu ta vẫn đang cố thực hiện vụ biến thành chó bun đó. "Có tin gì tốt không?"

"Thật ra thì, có đấy" Leo đáp. "Theo như Festus thông báo, chiếc bàn bay của chúng ta, Buford, đã trở lại an toàn lúc chúng ta còn ở Charleston, vậy là đám đại bàng kia không tóm được cậu chàng. Không may là, anh chàng đã làm mất túi đồ giặt với mấy cái quần của cậu rồi."

"Quỷ tha ma bắt nó chứ!" Frank rống lên, Leo nhận thấy đó có lẽ là một lời văng tục nặng nề đối với cậu ta.

Không nghi ngờ gì là Frank có thể đã chửi thề thêm ít nữa--tuôn ra những trời đất quỷ thần với trời đánh thánh vật--nhưng Percy đã cắt ngang bằng cách gập đôi người và rên rỉ.

"Thế giới vừa lộn ngược à?" cậu hỏi.

"Ừ, nó lại còn quay mòng mòng nữa chứ. Mọi thứ đều vàng khè. Nó phải là màu vàng hả?"

Annabeth và Piper trao đổi một cái nhìn lo lắng.

"Triệu tập cơn bão đó thực sự đã vắt kiệt sức lực của hai cậu rồi," Piper bảo hai cậu bạn."Các cậu cần phải nghỉ ngơi."

Annabeth gật đầu đồng ý. "Frank, cậu giúp bọn mình đưa hai cậu ấy xuống khoang được không?"

Frank liếc Leo, không nghi ngờ gì là đang chần chừ không muốn để cậu lại với Hazel một mình.

"Ổn mà, ông bạn," Leo nói. "Chỉ cần cố gắng đừng đánh rơi họ trên đường đi xuống là được."

Lúc mọi người đã xuống khoang hết rồi, Hazel và Leo lúng túng nhìn nhau. Họ hoàn toàn chỉ có một mình với nhau, nếu không tính HLV Hedge, ông thầy đang đứng ở boong lái hát bài hát nhạc phim Pokémon[5]. Ông thầy đã đổi lời bài hát thành Phải giết sạch bọn chúng[6] và Leo thực sự không muốn biết tại sao.

Bài hát không có vẻ giúp được gì cho chứng nôn nao của Hazel.

"Ui..." Cô chúi người về phía trước và ôm sườn. Cô có mái tóc rất đẹp--xoăn xoăn màu nâu sáng như những cuộn vỏ quế. Tóc của cô làm cậu nhớ đến một chỗ làm bánh quẩy churros[7] cực ngon ở Houston. Ý nghĩ ấy khiến cậu thấy đói.

"Đừng cúi về phía trước," cậu khuyên. "Đừng nhắm mắt lại, làm thế chỉ càng làm cơn buồn nôn tệ hơn."

"Vậy hả? Anh cũng bị say sóng à?"

"Không phải say sóng. Nhưng ô tô làm anh thấy nôn nao, cả..."

Cậu ngăn mình lại. Cậu định nói cả nói chuyện với con gái nữa, nhưng cậu quyết định giữ câu đó lại cho chính mình.

"Ô tô á?" Hazel chật vật ngồi thẳng dậy. "Anh có thể lái một con tàu hay cưỡi một con rồng, nhưng lại say xe?"

"Anh biết, kì cục nhỉ?" Leo nhún vai. "Anh đặc biệt kiểu vậy đấy. Nghe này, giữ cho tầm mắt em ở đường chân trời. Đó là một điểm cố định. Sẽ có ích đấy."

Hazel hít một hơi và nhìn ra xa. Mắt cô có màu vàng rực rỡ, như những bánh răng bằng đồng vàng bên trong cái đầu cơ khí của Festus.

"Đỡ hơn tí nào chưa?" Cậu hỏi.

"Có lẽ có một chút đỉnh." Giọng cô nghe như thể cô chỉ cố tỏ ra lịch sự. Cô giữ tầm mắt nhìn vào đường chân trời, nhưng Leo có cảm giác cô đang đo lường tâm trạng của cậu, cân nhắc xem nên nói gì.

"Frank không cố tình đánh rơi anh đâu," cô nói. "Anh ấy không phải kiểu người như thế, anh ấy chỉ thỉnh thoảng hơi vụng về thôi."

"Úi," Leo nói, bằng giọng giống Frank Trương nhất của cậu. "Đánh rơi Leo vào giữa một tiểu đội địch mất rồi. Khỉ thật."

Hazel cố nín cười. Leo thấy cười còn đỡ hơn là nôn mửa.

"Dễ dãi với anh ấy một chút đi," Hazel nói, "Anh với mấy quả cầu lửa của anh khiến anh ấy lo lắng."

"Anh chàng đó có thể biến thành một con voi, thế mà anh lại khiến cậu ta thấy lo lắng á?"

Hazel tiếp tục nhìn đường chân trời. Trông cô không còn quá nôn nao nữa, bất chấp chuyện HLV Hedge vẫn tiếp tục nghêu ngao bài hát Pokémon của ông ở khoang bánh lái.

"Leo," cô nói. "Về chuyện xảy ra ở Hồ Muối Lớn..."

Đến rồi đây, Leo nghĩ.

Cậu nghĩ đến cuộc gặp gỡ của họ với nữ thần báo thù Nemesis. Cái bánh quy may mắn trong cái đai dụng cụ của cậu dường như nặng thêm. Tối qua, khi họ bay khỏi Atlanta, Leo nằm trong cabin của cậu và nghĩ đến chuyện cậu đã làm Hazel tức giận đến mức nào. Cậu đã suy nghĩ xem làm cách nào để sửa chữa.

Cậu sẽ sớm phải đối mặt với một vấn đề cậu không thể giải quyết, Nemesis đã nói như vậy, Tuy nhiên, ta có thể giúp cậu...với một cái giá.

Leo đã lôi cái bánh quy may mắn đó ra khỏi cái đai dụng cụ của cậu và lật lật nó giữa các ngón tay, tự hỏi cậu sẽ phải trả cái giá gì nếu cậu bóp nó ra.

Có lẽ đây là lúc làm vậy.

"Anh rất sẵn lòng," cậu bảo Hazel, "Anh có thể dùng cái bánh quy may mắn để tìm em trai em."

Trông Hazel có vẻ sững sờ. "Gì cơ? Không! Ý em là...không đời nào em lại yêu cầu anh làm thế. Không phải sau khi Nemesis nói về cái giá khủng khiếp. Bọn mình thậm chí còn chẳng biết nhau mấy."

Lời bình chẳng biết nhau mấy khá đau, dù Leo biết đấy là sự thật.

"Thế...đấy không phải chuyện em định nói à? Cậu hỏi. "Ờ, có phải em muốn nói về khoảnh khắc nắm-tay-trên-tảng-đá không? Bởi vì--"

"Không" cô nói nhanh, quạt quạt mặt mình theo cái cách dễ thương mà cô vẫn hay làm mỗi khi bối rối. "Không, em chỉ đang nghĩ đến cách anh lừa Narcissus và mấy thần nữ đó..."

"Ờ, phải rồi." Leo bối rối nhìn vào cánh tay cậu, hình xăm HÀNG NÓNG vẫn chưa phai hẳn. "Có vẻ là một ý hay vào lúc đó."

"Lúc đó anh thật đáng kinh ngạc," Hazel nói, "Em cứ nghĩ đi nghĩ lại, anh làm em nhớ đến--"

"Sammy," Leo đoán. "Anh ước gì em nói cho anh biết cậu ta là ai."

"Từng là," Hazel đính chính. Không khí buổi tối ấm áp, nhưng cô lại rùng mình. "Em vẫn nghĩ...em có thể chỉ cho anh thấy."

"Ý em là như kiểu một bức ảnh á?"

"Không. Có một kiểu hồi tưởng xảy đến với em. Lâu rồi em chưa thấy nó, và em chưa từng cố ý làm nó xảy ra. Nhưng em từng chia sẻ một hồi tưởng với Frank, nên em nghĩ..."

Hazel khóa tầm mắt với cậu. Leo bắt đầu cảm thấy chộn rộn, như thể cậu bị tiêm cà phê. Nếu cái hồi tưởng này là thứ Frank từng chia sẻ với Hazel thì...chà, hoặc Leo không muốn mẩu nào của nó, hoặc cậu dứt khoát muốn thử nó. Cậu cũng không chắc là cái nào.

"Em nói là hồi tưởng..." Cậu nuốt nước bọt. "Chính xác thì ta đang nói đến cái gì? Nó có an toàn không?"

Hazel chìa tay ra. "Em không muốn yêu cầu anh làm việc này đâu, nhưng em chắc chắn là nó quan trọng. Việc bọn mình gặp nhau không thể là ngẫu nhiên. Nếu chuyện này thành công, có lẽ cuối cùng bọn mình cũng sẽ biết được bọn mình có liên hệ với nhau như thế nào."

Leo nhìn lại boong lái. Cậu vẫn có một cảm giác ngờ ngợ bừng bực rằng cậu đã quên chuyện gì đó, nhưng HLV Hedge có vẻ đang làm khá ổn. Bầu trời phía trước quang đãng. Không có dấu hiệu gì của rắc rối.

Hơn nữa, một hồi tưởng nghe có vẻ là một thứ khá chóng vánh. Để HLV Hedge phụ trách trong vài phút cũng chẳng chết ai, đúng không?

"Được rồi," cậu động lòng. "Chỉ cho anh xem nào."

Cậu nắm lấy tay Hazel, và thế giới tan biến.

Fancy Cross Page Divider
[0] Chiron, Nhân mã Chiron - thầy dạy của Achilles - đã bị Hercules, trong một lần truy đuổi kẻ thù, lỡ tay làm rơi mũi tên trúng chân Chiron, những mũi tên này đều tẩm kịch độc từ máu của Hydra (quái vật rắn nhiều đầu Hercules đã giết trước đó) nên bị chết. Hối hận vì hành động nông nổi Hercules đã đưa Chiron lên thành một chòm sao trên trời. Chiron là một nhân mã xuất sắc nhất trong loài của mình, ông đã đào tạo nhiều anh hùng trong thần thoại Hi Lạp, ông không những hiểu biết nhiều trong nhiều lĩnh vực mà còn có kỹ năng chiến đấu tuyệt vời, đặc biệt là khả năng sử dụng cung tên. Vì lẽ đó người ta thường thấy chòm sao Nhân Mã đang giương cung lên ngắm bắn nên còn gọi là chòm sao Xạ Thủ.
[1] kiếm Nerf: kiếm nhựa do hãng đồ chơi Nerf-một hãng đồ chơi của Mỹ-sản xuất.
NerfN-ForceSwords
[2] root beer: một loại đồ uống ngọt của Mĩ, thường được làm từ rễ hoặc vỏ của cây de vàng (sassafra-một loại cây mọc ở Bắc Mỹ, thuộc họ nguyệt quế, vỏ và rễ có vị ngọt, lá có mùi thơm), có hai loại bia rễ cây là loại có cồn (lượng cồn rất thấp) và loại ngọt.
bia
[3] Super Soakers: một loại súng phun nước cũng của hãng đồ chơi Nerf.
súng
[4] bull dog: một giống chó chắc người, mặt có nhiều nếp nhăn, khá dữ dằn.
bull
[5] Pokémon-Pokémon (ポケモン) là một trò chơi điện tử của hãng Nintendo Nhật Bản được phát triển bởi Tajiri Satoshi phát hành vào năm 1996. Hiện đã trở thành một thương hiệu đang thịnh hành ở nhiều quốc gia khác trên thế giới, đã được chuyển thể thành các bộ anime, truyện tranh,... nhiều tập. Hoạt hình Pokémon đã được chiếu ở Việt Nam.
Pokemon
[6] Nhạc phim Pokémon tên là Gotta catch 'em all (phải bắt được tất cả bọn chúng), nhưng HLV Hedge lại hát thành Gotta kill 'em all (phải giết sạch bọn chúng).





[7]churros: một loại bánh rán như quẩy của mình, ăn với đường trộn bột quế hoặc chấm chocolat.
quẩy

Sunday, May 12, 2013

The Mark of Athena _ Chương 19

The Mark of Athena


Dấu hiệu Athena


Chương 19


Annabeth


tumblr_mgp5c83pBX1qf7q01o1_500


HỌ KHÔNG VỀ KỊP TỚI TÀU.
Nửa đường qua bến tàu, ba con đại bàng khổng lồ đáp xuống trước mặt họ. Mỗi con chở theo một biệt kích La Mã mặc áo tím quần bò với giáp vàng lấp lánh, gươm và khiên. Lũ đại bàng bay đi và tên La Mã đứng giữa, kẻ trông nhẳng nheo hơn hai gã kia nâng tấm giáp che mặt của mình lên.
“Hãy đầu hàng trước Rome!” Octavian rít lên.
Hazel rút thanh gươm kỵ sĩ của mình ra gầm gừ, “Cơ hội béo bở nhỉ, Octavian.”
Annabeth rủa thầm. Một mình gã, tên thầy bói giơ xương thì cô chả phiền, nhưng hai tên kia trông như những chiến binh dày dạn – to hơn, khỏe hơn nhiều loại mà Annabeth muốn vướng vô, đặc biệt do bởi Piper và cô chỉ được trang bị dao găm mà thôi.
Piper giương tay lên ra dấu xoa dịu. “Octavian, việc xảy ra ở trại đã bị sắp đặt. Chúng tôi có thể giải thích.”
“Chả nghe thấy cô nói gì cả!” Octavian la. “Sáp trong tai tụi này – đạt tiêu chuẩn để đấu với lũ Siren[1]. Giờ thì vứt vũ khí xuống và quay người lại từ từ để tôi còn trói tay mấy cô lại được.”
“Để em xiên gã một nhát,” Hazel lẩm bẩm. “Đi mà.”
Con tàu chỉ cách đó năm mươi b,ộ nhưng Annabeth chả thấy dấu hiệu gì của HLV Hedge trên boong. Chắc ông đang ở khoang dưới xem mấy cái chương trình võ thuật tổng hợp ngu ngốc của mình. Nhóm Jason sẽ chưa về cho tới lúc hoàng hôn và Percy chắc đang ở dưới nước, chẳng biết gì về cuộc xâm lăng. Nếu Annabeth lên được tàu, cô có thể dùng mấy cỗ nỏ phóng tiễn, nhưng chả có cách nào vượt qua được ba kẻ La Mã này cả.
Cô đang cạn dần thời gian. Lũ đại bàng lượn vòng trên đầu, kêu lên như đang báo với anh em của chúng: Này, có mấy đứa á thần Hy Lạp tươi ngon đàng này này! Annabeth không thấy cỗ phi xa[2] đâu nữa nhưng cô nghĩ nó cũng đâu đó gần đấy thôi. Cô phải nghĩ ra cái gì đó trước khi có thêm người La Mã tới.
Cô cần giúp đỡ…một kiểu tín hiệu báo nguy với HLV Hedge hay tốt hơn là – Percy.
“Này?” Octavian cao giọng. Hai tên bạn của gã vung gươm.
Rất chậm, chỉ dùng hai ngón tay, Annabeth rút con dao của mình ra. Thay vì thả rơi nó, cô ném nó ra xa hết mức có thể, xuống nước.
Octavian kêu lên the thé. “Làm thế làm quái gì hả? Tao có bảo ném đi đâu! Nó có thể làm bằng chứng. Hay chiến lợi phẩm nữa!”
Annabeth ngượng ngịu toét một nụ cười tóc-vàng-ngớ-ngẩn kiểu: Ối, ngu thật. Chả ai biết cô lại nghĩ cô có lúc ngu cả. Những Octavian có vẻ trúng kế rồi. Gã bực tức thở hắt ra.
“Hai cô còn lại …” Gã chĩa gươm vô Hazel và Piper. “Đặt vũ khí của các người xuống sàn bến. Không đùa đâ__”
Quanh mấy kẻ La Mã, Cảng Chaleston bắn tung như một đài phun nước Las Vegas trong giờ diễn. Khi tường nước biển hạ xuống, ba tên La Mã đã bay ra vịnh, lắp ba lắp bắp và cố gắng điên cuồng để nổi lên trong bộ áo giáp. Percy đứng trên bến tàu, cầm con dao của Annabeth.
“Cậu đánh rơi này,” cậu nói, mặt tỉnh bơ như không.
Annabeth quàng tay ôm cậu. “Mình yêu cậu!”
“Mọi người,” Hazel ngắt ngang. Cô nở một nụ cười trên mặt. “Bọn mình phải nhanh lên.”
Ở dưới nước, Octavian hét to, “Cho tao lên khỏi đây! Tao sẽ giết mày!”
“Trông thích thật,” Percy gọi với xuống.
“Gì hả?” Octavian thét lớn. Gã đang bám vô một trong hai cận vệ của mình, người đang gặp rắc rối với việc giữ cho cả hai nổi được.
“Chả gì cả!” Percy thét trả. “Đi thôi mọi người.”
Hazel nhăn mặt. “Bọn ta có thể không dìm họ chết chìm được không?”
“Không chìm đâu,” Percy hứa. “Anh đã khiến nước chảy quanh chân họ rồi. Ngay khi ta thoát khỏi vòng nguy hiểm anh sẽ cho họ vô bờ.”
Piper nhếch mép. “Hay đấy.”
Họ trèo lên boong tàu Argo II và Annabeth chạy ngay tới chỗ bánh lái. “Piper, xuống dưới. Dùng cái bồn trong bếp gửi thông điệp Iris[3]. Cảnh báo Jason về đây ngay!”
Piper gật đầu rồi phóng đi.
“Hazel, đi tìm HLV Hedge và bảo thầy ấy vác cặp chân lông lá lên boong ngay!”
“Phải thế rồi!”
“Và Percy – cậu với mình cần đưa con tàu tới Đồn Sumter.”
Percy gật đầu và chạy tới chỗ cột buồm. Annabeth giữ bánh lái. Tay cô lướt trên bảng điều khiển. Cô mong mình biết đủ để vận hhng chúng.
Annabeth từng thấy Percy vận hành một thuyền buồm cỡ lớn trước kia chỉ bằng sức mạnh ý chí. Giờ đây, cậu không làm cô thất vọng. Dây thừng tự bay lên – tháo nút buộc khỏi bến, tự kéo neo. Buồm giương lên đón gió. Trong khi ấy, Annabeth nổ máy động cơ. Các mái chèo duỗi ra với tiếng kêu như súng máy và tàu Argo II rời khỏi bến, hướng tới hòn đào phía xa.
Ba con đại bàng vẫn lượn vòng trên đầu, nhưng chúng không cố gắng đậu lên tàu gì cả, có lẽ bởi đầu tàu Festus cứ phun lửa mỗi khi chúng tiến gần. Thêm nhiều con đại bàng nữa đang bay theo đội ngũ tiến tới đồn Sumter – ít nhất một tá. Nếu mỗi con mang theo một á thần La Mã … thì có nhiều kẻ thù lắm đây.
HLV Hedge thình thịch lên thang với Hazel theo sau guốc.
“Bọn chúng đâu hả?” ông hỏi. “Tôi giết ai đây?”
“Không giết chóc gì hết!” Annabeth ra lệnh. “Chỉ phòng vệ cho con tàu mà thôi!”
“Những chúng phá ngang một bộ phim của Chuck Norris!”
Piper xuất hiện từ khoang dưới. “Gửi được một tin nhắn tới Jason rồi. Mờ mờ thôi, nhưng cậu ấy đã lên đường về rồi. Hẳn là phải__ ồ! Kia rồi!”
Nhô lên trên thành phố, đang hướng lại phía họ là một con đại bàng đầu trắng[4] khổng lồ, không giống lũ chim vàng La Mã.
“Frank!” Hazel nói.
Leo đang bám vô một chân đại bàng và dù là ngay từ trên thuyền, Annabeth cũng nghe thấy cậu đang la hét chửi rủa.
Phía sau họ là Jason đang cưỡi gió mà bay.
“Chưa bao giờ thấy Jason bay trước đây cả,” Percy càu nhàu. “Cậu ấy trông như Siêu nhân tóc vàng ấy.”
“Không phải lúc đâu!” Piper la cậu. “Trông xem, họ đang gặp rắc rối đó!”
Chắc chắn rồi, cỗ phi xa La Mã đã hạ xuống từ một đám mây và đang đi xuống hướng tới phía họ. Jason với Frank trệch ra khỏi đường bay, bay vụt lên để tránh bị lũ Pegasus đạp phải. Những người đánh xe bắn cung. Mũi tên rít gió ngay dưới chân Leo khiến cậu lại chửi rủa la hét lắm thêm. Jason với Frank buộc phải vượt tàu Argo II và bay tới đồn Sumter.
“Ta sẽ xử chúng!” HLV Hedge hét to.
Ông quay cỗ nỏ phóng tiễn bên mạn trái. Trước khi Annabeth có thể thét, “Đừng ngốc thế!” Hedge đã khai hỏa. Một mũi hỏa tiễn phóng vụt về phía cỗ phi xa.
Nó phát nổ trên đầu những con Pegasus và khiến chúng hoảng loạn. Không may là nó cũng làm xém cánh của Frank và khiến cậu mất kiểm soát. Leo tuột khỏi vuốt cậu. Cỗ phi xa bắn về phía đồn Sumter, nã đạn vào Jason.
Annabeth kinh hãi nhìn Jason – rõ ràng đang choáng váng và đau đớn – lao về phía Leo, chộp được cậu và vật lộn mãi để đạt được độ cao thích hợp. Cậu chỉ xoay sở làm chậm cú rơi của họ được thôi. Họ biến mất sau bức tường pháo đài. Frank nhào xuống ngay sau họ. Sau đó, cỗ chiến xa rớt xuống đâu đó chỗ đấy luôn với một tiếng RẮC! ghê người. Một bánh xe bắn vào khoảng không.
“Huấn Luyện Viên!” Piper hét toáng.
“Gì chứ?” Hedge cao giọng. “Chỉ là một cú bắn cảnh cáo đấy thôi!”
Annabeth rồ máy động cơ. Thân tàu rung lên khi họ tăng tốc. Các bến tàu trên đảo giờ chỉ cách có vài trăm thước nữa thôi, nhưng một tá đại bàng nữa đang vọt tới trên không, mỗi con quắp một á thần La Mã đằng móng.
Đoàn người tàu Argo II sẽ bị áp đảo số lượng ba đánh một.
“Percy,” Annabeth nói, “bọn mình sắp gặp khó khăn lắm lắm đấy. Mình cần cậu điều khiển nước để chúng không tràn vào boong. Một khi đến được đó rồi, cậu sẽ phải cầm chân những kẻ tấn công. Những người còn lại giúp cậu ấy giữ thuyền nhé.”
“Nhưng – Jason!” Piper nói.
“Frank và Leo nữa!” Hazel thêm vô.
“Chị sẽ tìm bọn họ,” Annabeth hứa. “Mình phải tìm ra tấm bản đồ ở đâu. Và mình chắc là chỉ mình mới tìm được nó thôi.”
“Trong đồn toàn người La Mã,” Percy cảnh báo. “Cậu sẽ phải phá vây xông vào, tìm bạn tụi mình – đảm bảo cho họ ổn – tìm tấm bản đồ và đưa mọi người sống sót trở về. Mình cậu làm tất ư?”
“Ngày báo thù mà.” Annabeth hôn cậu. “Dù cậu có làm gì thì cũng đừng để họ chiếm con tàu này nhé!”

Fancy Cross Page Divider


[1] Siren, những sinh vật xinh đẹp và nguy hiểm sống trên biển, thường ngồi trên các mỏm đá, dùng giọng ca mê hoặc các thủy thủ để họ đâm vào bãi đá ngầm khiến tàu chìm. Hình dạng có thể là mình chim đầu người hay thân người đuôi cá
Waterhouse-Ulysses
[2] flying chariot: xe ngựa bay, loại chiến xa có ngựa bay kéo
xe bay
[3] Iris, nữa thần cầu vồng và người đưa tin của các vị thần trong thần thoại Hy Lạp
iris
[4] bald eagle, 1 loại đại bàng dũng mãnh, biểu tượng nước mỹ, cũng là biểu tượng của thần Zeus.
EVO-WWI-064-01060

Friday, May 10, 2013

The Mark of Athena - Chương 18

The Mark of Athena


Dấu hiệu Athena


Chương 18


Annabeth


9aphrodite


ĐÊM ĐÓ, ANNABETH NGỦ MỘT GIẤC KHÔNG MỘNG MỊ, điều này chỉ làm cô thêm bồn chồn khi thức giấc - như sự yên bình trước một cơn bão vậy.
Leo cho tàu thả neo tại một cầu tàu ở Bến Cảng Charleston, ngay cạnh con đê chắn sóng. Dọc bờ biển là một khu dân cư cổ kính với những biệt thự lớn, những hàng cọ và hàng rào thép uốn. Những khẩu thần công cổ chĩa nòng súng xuống mặt nước.
Lúc Annabeth lên boong thì Jason, Frank và Leo đã trên đường đi tới bảo tàng rồi. Theo lời HLV Hedge, họ đã hứa sẽ trở lại vào lúc hoàng hôn. Piper và Hazel đã sẵn sàng khởi hành, nhưng trước tiên Annabeth quay về phía Percy, cậu đang đứng tựa vào tay vịn lan can, chăm chăm nhìn ra con vịnh.
Annabeth nắm lấy tay cậu. "Cậu định làm gì lúc bọn mình đi?"
"Nhảy xuống khu cảng," cậu nói rất bình thản, kiểu như những đứa trẻ khác vẫn nói, Mình sẽ kiếm ít đồ ăn vặt. "Mình muốn thử liên lạc với đám Nereid trong vùng. Có lẽ họ có thể cho mình vài lời khuyên về cách giải cứu đám sinh vật bị bắt nhốt ở Atlanta. Hơn nữa, mình nghĩ có lẽ biển sẽ tốt cho mình. Ở trong cái thủy cung đó khiến mình cảm thấy...không sạch sẽ."
Tóc cậu vẫn sẫm màu và rối bù như mọi khi, nhưng Annabeth nghĩ đến những lọn tóc bạc cậu từng có ở một bên đầu. Hồi bọn họ mười bốn tuổi, họ từng (bị buộc phải) thay nhau chống đỡ bầu trời. Áp lực khiến một ít tóc của cả hai bọn họ chuyển bạc. Suốt năm vừa rồi, trong lúc Percy mất tích, những vệt tóc bạc trên đầu cả hai người cuối cùng cũng đã biến mất, điều này lại khiến Annabeth cảm thấy hơi lo. Cô có cảm giác như thể mình đã mất đi một mối ràng buộc tượng trưng nào đó với Percy vậy.
Annabeth hôn cậu. "Chúc may mắn, Óc Tảo Biển, chỉ cần nhớ quay lại với mình, được chứ?"
"Mình sẽ quay lại." Cậu hứa. "Cậu cũng vậy nhé."
Annabeth cố dằn xuống nỗi bồn chồn đang lớn dần trong lòng.
Cô quay về phía Piper và Hazel. "Được rồi, các quý cô, đi tìm hồn ma Battery nào."
Sau này, Annabeth ước rằng cô đã nhảy xuống khu cảng cùng Percy. Thậm chí cô thà chọn một bảo tàng đầy ma còn hơn.
Không phải là cô không thích đi dạo cùng Piper và Hazel. Ban đầu, họ khá là vui vẻ khi dạo khắp đường kè Battery. Theo như biển chỉ dẫn thì công viên bên bờ biển đó tên là vườn White Point[1]. Làn gió biển cuốn trôi cái nóng oi bức của buổi chiều hè và dưới bóng những hàng cọ lùn, không khí mát mẻ dễ chịu. Ven con đường là một hàng những khẩu thần công từ thời Nội Chiến và tượng các nhân vật lịch sử bằng đồng khiến Annabeth rùng mình. Cô nhớ đến những bức tượng ở New York trong Cuộc chiến Titan, những bức tượng đã sống lại nhờ chuỗi lệnh hai mươi ba của Deadalus. Cô thắc mắc liệu cả nước còn có bao nhiêu bức tượng là người máy bí mật đang chờ được khởi động.
Cảng Charleston lấp lánh dưới ánh mặt trời. Ở phía bắc và nam, những dải đất vươn ra như những cánh tay ôm lấy con vịnh và chễm chệ ngay cửa cảng, cách khoảng một dặm phía ngoài là hòn đảo với một đồn công sự bằng đá. Annabeth nhớ mang máng cái đồn đó khá quan trọng trong cuộc Nội Chiến, nhưng cô cũng chẳng nghĩ nhiều đến việc ấy làm gì.
Chủ yếu cô chỉ hít thở làn hơi biển và nghĩ đến Percy. Cầu trời đừng để cô phải chia tay với cậu. Cô sẽ không bao giờ có thể ra biển lần nữa mà không nghĩ đến trái tim tan vỡ của mình mất. Cô nhẹ cả người khi họ đi khỏi con đê chắn sóng và thăm dò phần đất liền của vườn hoa.
Công viên không đông người cho lắm. Annabeth cho rằng hầu hết người dân địa phương đã đi nghỉ hè hoặc trốn trong nhà ngủ trưa. Ba người tản bộ dọc con phố Nam Battery, con phố có hàng biệt thự bốn tầng kiểu thời thuộc địa[2]. Những bức tường gạch phủ đầy thường xuân. Mặt tiền các ngôi biệt thự có những hàng cột cao vút như các ngôi đền La Mã. Những khoảnh vườn trước tràn ngập hoa hồng, hoa kim ngân và hoa giấy nở rộ. Trông cứ như thể Demeter đã đặt đồng hồ của tất cả những cây này ở chế độ nảy nở từ vài thập kỷ trước rồi quên quay lại kiểm tra thì phải.
"Nó đại khái làm em nhớ đến Rome Mới," Hazel nói. "Tất cả đám biệt thự rồi vườn hoa, rồi cột với mái vòm đó."
Annabeth gật đầu. Cô nhớ cô đã đọc được rằng trước thời nội chiến, Miền Nam nước Mỹ thường so sánh mình với Rome ra sao. Thời trước, xã hội của họ chỉ toàn nghệ thuật kiến trúc đầy ấn tượng, danh dự và phong thái hào hoa. Còn về mặt xấu xa, nó lại liên quan tới chế độ nô lệ. Thành Rome có nô lệ, một vài người miền Nam biện luận, Thì sao chúng ta không thể có cơ chứ?
Annabeth rùng mình. Cô yêu kiến trúc ở nơi này. Những ngôi nhà và vườn hoa rất đẹp, rất đậm chất La Mã. Nhưng cô tự hỏi tại sao những thứ đẹp đẽ lại cứ phải mang một lớp vỏ lịch sử đen tối. Hay là ngược lại? Phải chăng chính cái lịch sử xấu xa khiến người ta cần phải dựng nên những thứ xinh đẹp để che đậy những mặt đen tối đó?
Cô lắc lắc đầu. Percy sẽ ghét việc cô trở nên triết lý như vậy. Cô mà thử nói với cậu những thứ ấy như vậy, mắt cậu sẽ dại ra.
Hai cô gái còn lại không nói gì nhiều.
Piper liên tục nhìn quanh như thể cô đang chờ đợi một cuộc phục kích. Cô nói cô đã nhìn thấy công viên này trên lưỡi dao của mình, nhưng cô không chịu kể chi tiết. Annabeth đoán cô bạn sợ phải làm vậy. Nói cho cùng thì, lần cuối Piper cố giải nghĩa những hình ảnh trong con dao của cô, Percy và Jason đã suýt giết nhau ở Kansas.
Hazel cũng có vẻ lơ đãng. Có lẽ con bé đang quan sát xung quanh, hay có thể là đang nghĩ về em trai mình. Trong vòng chưa đầy bốn ngày nữa, trừ phi họ tìm thấy Nico và giải thoát thằng bé, không nó sẽ chết.
Annabeth cũng cảm thấy cái hạn đó đang đè nặng lên cô. Cô luôn có những cảm xúc lẫn lộn về Nico di Angelo. Cô ngờ rằng cậu đã đổ lỗi cho cô từ dạo cô cứu cậu và chị gái Bianca của cậu khỏi cái học viện quân sự ở Maine đó, nhưng Annabeth chưa từng có hứng thú với Nico. Cậu quá trẻ và quá ủ rũ. Có một phần tối tăm trong cậu khiến Annabeth không thoải mái.
Dẫu vậy, cô vẫn cảm thấy có trách nhiệm với cậu. Hồi họ mới gặp nhau, chưa ai trong số họ biết về người chị gái cùng cha khác mẹ của cậu, Hazel. Lúc đó, Bianca là người thân duy nhất còn sống của cậu. Khi cô mất, Nico trở thành đứa trẻ mồ côi không nơi nương tựa, một mình lang bạt trên thế gian. Annabeth có thể có liên quan tới chuyện đó.
Cô mải nghĩ ngợi đến nỗi có thể cô đã cứ thế mà đi dạo quanh công viên mãi, nhưng Piper túm lấy tay cô.
"Kia kìa." Cô chỉ ra phía kia bến cảng. Cách một trăm thước ngoài xa, một bóng hình trắng lấp lánh đang dập dềnh trên mặt nước. Ban đầu, Annabeth nghĩ đó là một cái phao hay xuồng cứu hộ đang phản chiếu ánh sáng mặt trời, nhưng rõ ràng nó đang phát sáng và chuyển động êm hơn một chiếc xuồng, tạo một đường thẳng tiến về phía họ. Khi vật thể đó tiến lại gần, Annabeth nhận ra đó là hình dáng một người phụ nữ.
"Hồn ma," Cô nói.
"Đó không phải một hồn ma," Hazel nói. "Không có loại hồn phách nào lại tỏa sáng rực rỡ như vậy."
Annabeth tin lời bạn cô nói. Cô không thể tưởng tượng mình là Hazel, chết từ khi còn quá trẻ như vậy, rồi quay trở lại từ Âm phủ, biết nhiều về người chết hơn cả người sống.
Như bị thôi miên, Piper băng qua con đường và đi về phía con đê chắn sóng, tránh được một cỗ xe ngựa chỉ trong đường tơ kẽ tóc.
"Piper!" Annabeth gọi.
"Tốt nhất là bọn mình nên theo chị ấy đi". Hazel nói.
Đến lúc Annabeth và Hazel theo kịp cô thì hồn ma chỉ còn cách có vài sải.
Piper lườm nó như thể nhìn thấy nó khiến cô bị xúc phạm.
"Quả nhiên là bà ấy." Cô gầm gừ.
Annabeth hé mắt nhìn hồn ma, nhưng nó phát sáng quá chói để có thể nhìn rõ chi tiết. Rồi bóng ma bay lên khỏi con đê chắn sóng và dừng ngay trước mặt bọn họ. Vầng sáng mờ đi.
Annabeth hít sâu một hơi. Người phụ nữ đó đẹp đến nghẹt thở, và quen thuộc một cách kỳ lạ. Khuôn mặt của bà ta thật khó miêu tả. Diện mạo bà ta dường như biến đổi từ những đường nét của hết diễn viên điện ảnh quyến rũ này đến những minh tinh màn bạc khác. Đôi mắt bà ta lấp lánh tinh nghịch - lúc thì xanh dương, khi thì xanh lá, lúc lại màu hổ phách. Mái tóc bà ta biến đổi từ tóc vàng dài và thẳng sang những lọn xoăn màu nâu sô-cô-la sẫm.
Ngay lập tức, Annabeth cảm thấy ghen tị. Cô luôn ước mình có một mái tóc sẫm màu. Cô có cảm giác không ai coi trọng một cô gái tóc vàng như cô. Cô phải cố gắng gấp đôi để được công nhận là một nhà chiến lược, một kiến trúc sư, một cố vấn trẻ tuổi - bất cứ thứ gì có liên quan đến đầu óc.
Người phụ nữ ăn mặc như một người đẹp Phương Nam, y như Jason miêu tả. Bộ đồ bà ta có phần thân trên xẻ sâu bằng lụa hồng và phần chân váy ba tầng và viền ren vỏ sò màu trắng. Bà ta đeo một đôi găng lụa dài màu trắng và cầm một cây quạt gắn lông vũ màu trắng-hồng.
Dường như mọi thứ trên người bà ta đều được tính toán để khiến Annabeth thấy thua kém: từ phong thái thoải mái khi bà mặc chiếc váy, cách trang điểm hoàn hảo mà không lộ liễu, đến cái cách bà ta tỏa nét quyến rũ nữ tính mà không một người đàn ông nào có thể cưỡng lại.
Annabeth nhận ra nỗi ghen tị của mình là bất hợp lý. Người phụ nữ này đang khiến cô cảm thấy như vậy. Cô từng có trải nghiệm này trước đây rồi. Cô nhận ra người phụ nữ này, dù mặt "bà ta" không ngừng biến đổi mỗi giây, càng lúc càng đẹp hơn.
"Aphrodite," cô nói.
"Venus?" Hazel kinh ngạc hỏi.
"Mẹ." Piper nói, không chút hào hứng.
"Các cô gái!" Vị nữ thần giang rộng tay như muốn một cái ôm tập thể.
Ba cô gái á thần không nghe theo. Hazel lùi về phía một gốc cọ lùn.
"Ta rất mừng là các con ở đây." Aphrodite nói. "Chiến tranh đang đến. Đổ máu là không thể tránh khỏi. Vậy nên chỉ có một việc duy nhất phải làm."
"Ờ...và đó là?" Annabeth đánh bạo hỏi.
"Sao cơ, hiển nhiên là uống trà và tán gẫu rồi. Theo ta nào!"
Aphrodite rất biết cách mở một buổi tiệc trà.
Bà dẫn ba người đến mái đình hóng mát[3] ở trung tâm vườn hoa - một vọng lâu[4] với những cây cột trắng, nơi có một chiếc bàn đã sắp sẵn đồ bạc, chén sứ Tàu và tất nhiên là cả một ấm trà nóng nghi ngút, hương trà cũng dễ dàng thay đổi như Aphrodite thay hình đổi dạng vậy - lúc là hương quế, khi là hương nhài, lúc lại là hương bạc hà. Trên bàn còn có một đĩa đầy bánh lúa mạch[5], bánh quy và bánh nướng xốp cùng với bơ tươi và mứt - tất cả, Annabeth nhận thấy, đều dễ gây béo khủng khiếp, trừ phi, dĩ nhiên rồi, bạn là nữ thần tình yêu bất tử.
Aphrodite ngồi - hay đúng hơn, thiết triều - trên một chiếc ghế con công[6] bằng liễu gai. Bà rót trà và mời bánh mà không bị rây một vệt nào ra váy áo, tư thế của bà luôn hoàn hảo, nụ cười của bà thì chói lóa.
Họ càng ngồi lâu, Annabeth càng thấy ghét bà ta hơn.
"Ôi, các cô gái ngọt ngào của ta," nữ thần nói. "Ta yêu Charleston lắm lắm ý! Những đám cưới ta đã tham dự ở vọng lâu này - chúng khiến ta rơi lệ. Và cả những vũ hội hồi Miền Nam Cũ nữa. A, chúng mới đáng yêu làm sao. Ở vườn của rất nhiều biệt thự trong số những biệt thự kia vẫn có tượng của ta, dù họ gọi ta là Venus.
"Người nào mới là bà?" Annabeth hỏi. "Venus hay Aphrodite?"
Nữ thần nhấp một ngụm trà. Mắt bà ta lóe lên vẻ tinh quái. "Annabeth Chase, cháu đã lớn phổng lên thành một quý cô trẻ xinh đẹp rồi đấy. Tuy vậy, cháu thực sự nên làm gì đó với mái tóc của mình. Và, Hazel Levesqe, quần áo của cháu-"
"Quần áo của cháu?" Piper nhìn xuống bộ đồ bò nhàu nhĩ của mình - không phải theo kiểu ngượng ngập lúng túng, mà chỉ bối rối, như thể cô không tưởng tượng được chúng có gì không ổn.
"Mẹ!" Piper nói. "Mẹ làm con xấu hổ đấy."
"Chà, ta không thấy có lý do nào khiến con cảm thấy xấu hổ cả." Vị nữ thần nói. "Chỉ vì con không coi trọng những bí quyết về thời trang của ta, Piper ạ, không có nghĩa là những người khác cũng không thích. Ta có thể "cải tạo" nhanh cho Annabeth và Hazel, có lẽ với những bộ váy dạ hội bằng lụa giống của ta-"
"Mẹ!"
"Được thôi," Aphrodites thở dài. "Và để trả lời câu hỏi của cháu, Annabeth, cả Aphrodite lẫn Venus đều là ta. Không như những người bạn Olympus của ta, ta hầu như không hề thay đổi theo năm tháng. Thật ra, ta thích nghĩ rằng ta không hề già đi tẹo nào!" Vị nữ thần vỗ vỗ lên khuôn mặt mình đầy tán thưởng." Dù gì đi nữa, tình yêu vẫn cứ là tình yêu, có là người La Mã hay người Hy Lạp cũng vậy thôi. Cuộc nội chiến này sẽ không ảnh hưởng nhiều tới ta như tới những người khác."
Tuyệt thật, Annabeth nghĩ. Mẹ của cô, một trong những vị thần Olympus trí tuệ nhất, bị biến thành một kẻ loạn trí hằn học lang thang trong một ga điện ngầm. Và trong số tất cả những vị thần có thể giúp họ, những kẻ duy nhất có vẻ không bị ảnh hưởng bởi sự giằng xé Hy Lạp-La Mã này là Aphrodite, Nemesis, và Dionysus. Tình yêu, báo thù và rượu vang. Hữu ích ghê.
Hazel gặm một miếng bánh quy đường. "Vẫn chưa có chiến tranh mà, thưa nữ thần."
"Ôi, Hazel yêu quý," Aphrodite gấp cây quạt của bà ta lại. "Thật là lạc quan làm sao, nhưng cháu sẽ phải đối mặt với những ngày tháng buồn đau phía trước. Dĩ nhiên là chiến tranh sẽ nổ ra. Tình yêu và chiến tranh luôn đồng hành với nhau. Chúng là những đỉnh cao của cảm xúc con người! Cái ác và cái thiện, cái đẹp và xấu xa.
Nữ thần cười với Annabeth như thể bà ta biết trước đó cô đã nghĩ gì về Miền Nam cũ.
Hazel đặt miếng bánh quy đường của cô xuống. Một ít vụn bánh dính trên cằm cô và Annabeth thích việc cô bạn không biết hoặc không buồn quan tâm đến chuyện đó.
"Ý bà là sao khi nói," Hazel hỏi, "ngày tháng buồn đau?"
Nữ thần cười ngất như thể Hazel là một chú cún con dễ thương." Chà, Annabeth có thể có vài gợi ý cho cháu đấy. Ta từng hứa sẽ làm cho đường tình duyên của con bé trở nên thú vị. Và ta đã làm vậy, không phải sao?"
Annabeth suýt nữa bẻ gãy quai tách trà của cô. Hàng nhiều năm trời, trái tim cô đã bị giằng xé. Đầu tiên là Luke Castellan, mối tình đầu của cô, người chỉ coi cô như em gái, rồi anh chuyển sang phe xấu và quả quyết rằng anh thích cô - ngay trước khi anh chết. Sau đó thì Percy đến, cậu khiến người ta điên tiết nhưng cũng rất dễ thương, thế nhưng cậu dường như lại phải lòng một cô gái khác tên là Rachel và rồi cậu suýt chết, vài lần liền. Cuối cùng thì Annabeth cũng có được Percy, chỉ để chịu đựng việc cậu bị mất tích trong sáu tháng và mất luôn cả trí nhớ.
"Thú vị," Annabeth nói, là một cách hòa nhã để diễn tả sự việc đó."
"Chà, ta không thể nhận hết công lao cho tất cả những rắc rối của cháu được," vị nữ thần nói. "Nhưng ta luôn thích những chỗ ngoắt ngoéo trong một câu chuyện tình. Ồ, cả ba người đều là những câu chuyện xuất sắc - ý ta là, các cô gái, các con khiến ta tự hào!"
"Mẹ," Piper nói, "có lý do nào để mẹ ở đây không?"
"Hửm? Ồ, ý con là ngoài việc uống trà ra á? Ta thường đến đây mà. Ta yêu quang cảnh, đồ ăn, không khí nơi đây - con có thể ngửi thấy sự lãng mạn và cả thất tình trong không khí, không phải sao? Hàng thế kỷ chồng chất những thứ đó.
Bà chỉ ra một biệt thự gần đó. "Các con có thấy cái sân thượng trên mái kia không? Chúng ta từng mở một buổi tiệc vào cái đêm cuộc Nội chiến mở màn. Đêm nổ súng trận đồn Sumter[7]."
"Chính là nó!" Annabeth nhớ ra. "Hòn đảo ở bến cảng. Đó là nơi trận đầu tiên trong cuộc nội chiến diễn ra. Liên minh miền nam nổ súng với Liên bang miền Bắc và chiếm cái đồn đó."
"Ôi, một bữa tiệc ra tiệc!" Aphrodite nói. "Một dàn tứ tấu dây[8] và tất cả đàn ông đều mặc quân phục. Những bộ váy của phụ nữ - các con phải thấy chúng! Ta đã nhảy với Ares - hay là Mars nhỉ? Ta e rằng lúc đó ta hơi ngà ngà. Và những luồn sáng xinh đẹp khắp bến cảng, tiếng gầm của đại bác mang đến cho những người đàn ông cơ hội được vòng tay ôm những người tình đang kinh hãi của họ!"
Trà của Annabeth lạnh ngắt. Cô chưa ăn gì, nhưng cô cảm thấy buồn nôn.
"Bà đang nói về sự mở màn của một trong những cuộc chiến đẫm máu nhất lịch sử nước Mỹ đấy. Hơn sáu trăm nghìn người chết - còn nhiều hơn số người Mỹ đã chết trong cả Thế chiến thứ nhất và thứ hai cộng lại."
"Và những món ăn!" Aphrodite tiếp tục. "A, chúng còn trên cả tuyệt vời. Đích thân tướng Beauregard đã hiện diện ở đó. Thật là một anh chàng trăng hoa. Lúc đó anh ta đi cùng với người vợ thứ hai, nhưng các cháu phải thấy cái cách anh ta nhìn Lisbeth Cooper-"
"Mẹ!" Piper ném chiếc bánh lúa mạch của cô cho lũ bồ câu.
"Ờ, xin lỗi," vị nữ thần nói. "Tóm lại là, ta ở đây để giúp các con, các cô gái ạ. Ta ngờ rằng các con sẽ chẳng gặp được Hera mấy đâu. Nhiệm vụ nho nhỏ của các con khiến bà ta chẳng được chào đón là bao trong đại điện. Và các thần khác thì hơi khó ở, các con biết đấy, bị giằng xé giữa hai phần La Mã và Hy Lạp trong họ. Người bị nhẹ, người bị nặng." Aphrodite nhìn sang Annabeth. "Ta đoán cháu đã kể cho các bạn nghe về chuyện bất hòa với mẹ cháu rồi chứ?"
Má Annabeth nóng lên. Hazel và Piper nhìn cô tò mò.
"Bất hòa?" Hazel hỏi.
"Một cuộc tranh cãi," Annabeth đáp. "Không có gì đâu mà."
"Không có gì sao!" nữ thần nói. "Chà, ta không biết nữa. Athena là nữ thần đậm chất Hy Lạp nhất trong các nữ thần. Dù gì đi nữa, là người bảo trợ của Athens. Khi những người La Mã xâm chiếm..ờ, họ thu nhận Athena theo kiểu nào đó. Cô ấy trở thành Minerva, nữ thần của sự khéo léo và khôn ngoan. Nhưng người La Mã có những vị thần khác được ưa chuộng hơn, đáng tin cậy hơn - như Bellona[9]-"
"Mẹ của Reyna," Piper lẩm bẩm.
"Ừ, đúng vậy," nữ thần đồng ý. "Ta từng có một cuộc trò chuyện dễ thương với Reyna cách đây không lâu, ngay trong công viên này. Và dĩ nhiên, người La Mã có Mars. Và sau đó là Mithras[10] - còn không phải thần Hy Lạp hay La Mã thực sự, nhưng đám lính trong binh đoàn sùng bái hắn. Riêng ta luôn thấy hắn thô bỉ và khoe mẽ khủng khiếp. Dù sao thì người La Mã gần như cho Athena tội nghiệp ra rìa. Họ tước đi hầu hết quyền năng quân sự của cô ấy. Người Hy Lạp không bao giờ tha thứ cho người La Mã về nỗi sỉ nhục đó. Và Athena cũng vậy."
Tai Annabeth ù ù. "Dấu Hiệu Athena," cô nói. "Nó dẫn đường tới một bức tượng, phải không ạ? Nó dẫn lối tới...tới bức tượng đó."
Aphrodite mỉm cười. "Cháu rất khôn ngoan, như mẹ cháu vậy. Nhưng hãy hiểu rằng, các anh chị em của cháu, con cái Athena, đã kiếm tìm nó từ nhiều thế kỷ nay. Chưa ai thành công trong việc khôi phục bức tượng đó. Cho tới lúc này, họ vẫn mang mối thù với người La Mã. Mọi cuộc nội chiến...thật nhiều máu đổ và bao nhiêu trái tim tan vỡ...đều do những đứa con của Athena gây ra."
"Chuyện đó..." Annabeth muốn nói rằng điều đó là không thể, nhưng cô nhớ lại những lời cay đắng của Athena ở Ga điện ngầm Trung tâm, lửa hận bùng cháy trong mắt cô.
"Thật lãng mạn ư?" Aphrodite gợi ý. "Phải, ta cho là vậy."
"Nhưng mà.." Annabeth cố xua tan màn sương mờ mịt trong óc. "Dấu Hiệu Athena đó, nó hoạt động như thế nào? Nó là một lọat những gợi ý, hay dấu vết Athena để lại?"
"Ta không biết. Ta không nghĩ Athena có chủ ý tạo ra Dấu Hiệu đó. Nếu cô ấy biết bức tượng của mình ở đâu, cô ấy sẽ chỉ đơn giản là nói cho cháu biết mà tìm nó. Không...Ta đoán Dấu hiệu đó giống một vệt vụn bánh mỳ tượng trưng vậy. Nó là mối liên kết giữa bức tượng và những đứa con của nữ thần. Bức tượng muốn được tìm thấy, cháu thấy đấy, nhưng nó chỉ có thể được giải thoát bởi người xứng đáng nhất."
"Và trong suốt hàng ngàn năm," Annabeth nói, "không ai làm được việc đó."
"Khoan đã," Piper nói. "Chúng ta đang nói về bức tượng nào thế?"
Nữ thần cười. "Ồ, ta chắc là Annabeth có thể cung cấp đầy đủ thông tin cho con. Dù gì thì, manh mối mà các con cần đang ở rất gần: một tấm bản đồ tổng hợp, được truyền lại từ những người con của Athena vào năm 1861 - một kí ức bắt đầu trên hành trình của các con, ngay khi các con tới Rome. Nhưng như cháu đã nói, Annabeth Chase, chưa từng có ai theo được Dấu Hiệu Athena tới cùng. Ở đó, cháu sẽ phải đương đầu với nỗi sợ hãi lớn nhất đời cháu - nỗi sợ của tất cả con cái Athena. Và dù cháu có sống sót, cháu sẽ làm gì với phần thưởng của cháu? Cho chiến tranh hay cho hòa bình?"
Annabeth mừng vì có chiếc khăn trải bàn, vì dưới mặt bàn, chân cô đang run rẩy. "Tấm bản đồ này," cô hỏi, "nó ở đâu ạ?"
"Mọi người!" Hazel chỉ lên bầu trời. Bay vòng vòng trên hàng cọ lùn là hai con đại bàng lớn. Ở trên cao, một chiếc chiến xa bay được kéo bởi đám pegasus đang ầm ầm lao xuống. Rõ ràng là kế đánh lạc hướng bằng cái bàn Buford không có hiệu quả - ít ra cũng chả hiệu quả được lâu.
Aphrodite phết bơ lên một cái bánh nướng xốp như thể bà ta có toàn bộ thời gian trên thế giới.

"Ồ, tấm bản đồ ở trong đồn Sumter, dĩ nhiên rồi." Bà chỉ con dao phết bơ về phía hòn đảo ngoài bến cảng. "Có vẻ như những người La Mã đã đến nơi để ngăn các con. Ta mà là các con thì ta sẽ khẩn trương về tàu. Các con có muốn một ít bánh mang về không?"

Fancy Cross Page Divider


[1] White Point Garden - Một khu vườn ở gần càng Charleston.
[2] Colonial mansion-biệt thự theo lối kiến trúc thời thuộc địa: Có nhiều kiểu kiến trúc khác nhau của nhiều thời kỳ thuộc địa khác nhau, ở đây không nói rõ là thời kỳ nào, nhưng theo những thông tin mà mình tìm hiểu được thì có lẽ những ngôi biệt thự được nhắc tới ở đây thuộc lối kiến trúc Georgian-lối kiến trúc phổ biến của thời thuộc địa vua George. Đặc trưng của lối kiến trúc này là nhà được xây bằng gạch kiên cố với cột gỗ, thường có một phòng khách, một phòng ăn tiêu chuẩn, đôi khi có cả một phòng sinh hoạt gia đình, và các phòng ngủ được đặt trên tầng hai.
nhà
[3] pavillion- đình hóng mát, chỉ gồm cột và mái che, thường được xây theo hình bát giác, bên trong thường có bàn và ghế đá để ngồi ngắm cảnh, giống mấy cái đình thủy tạ của Trung Quốc.
Đình hóng mát vườn White Point
vườn
[4] gazebo-vọng lâu, cũng giống như đình hóng mát, là chỗ để ngồi ngắm cảnh, 2 nơi nhắc đến trong truyện là 1, chỉ nhiều tên gọi khác nhau thôi
[5] Scone: bánh nướng làm từ bột mì hoặc bột cháo yến mạch, thường được ăn khi uống trà.
bánh
[6] peacock chair: loại ghế có phần lưng tựa xòe ra giống như đuôi công, thường được làm từ cây liễu gai.
ghế con công
[7] Trận đồn Sumter là một cuộc pháo kích đã bức hàng đồn quân sự Sumter, là trận đánh đầu tiên chính thức mở màn cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Sau khi 7 tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ tuyên bố ly khai tách khỏi Liên bang, Nam Carolina đã yêu cầu quân đội miền Bắc rút khỏi các căn cứ của mình tại cảng Charleston. Ngày 26 tháng 12 năm 1860, thiếu tá miền Bắc Robert Anderson đã bí mật dời bộ chỉ huy của mình từ đồn Moultrie vốn không thể phòng thủ tại thị trấn Sullivan's Island đến đồn Sumter, một pháo đài trọng yếu kiểm soát lối ra vào cảng Charleston. Tổng thống James Buchanan đã cố gắng tăng viện và tiếp tế cho Anderson bằng con tàu buôn không vũ trang mang tên Ngôi sao miền Tây, nhưng thất bại khi tàu này bị các khẩu đội pháo binh bờ biển miền Nam tấn công vào ngày 9 tháng 1 năm 1861. Chính quyền Nam Carolina sau đó đã chiếm đóng tất cả các căn cứ của Liên bang trong khu vực Charleston, ngoại trừ đồn Sumter.
[8] string quartet - dàn tứ tấu dây: một dàn nhạc gồm bốn nhạc cụ thuộc bộ dây, thường bao gồm hai violin, một viola và một cello.
Holmes String Quartet
[9] Bellona, nữ thần chiến tranh La Mã, là một vị thần quan trọng với người La Mã, cai quản chính sách đối ngoại với các nước khác trong chiến tranh. Nữ thần này rất thân thiết với Mars-nam thần chiến tranh, thường được biết đến như người đồng hành của Mars. Bà được cho là vợ, con gái hoặc người đánh chiến xa cho Mars, nhưng thường được gọi là em gái song sinh của vị thần chiến tranh này hơn.
bellona
[10] Mithdras- thần của các chiến binh La Mã, là một vị thần Ba Tư được người Hy Lạp tiếp nhận nhưng lại có đền thờ chính ở Rome. Những người lính trong các binh đoàn thành Rome rất tôn sùng vị thần này. Vị thần này được sinh ra từ đá, cầm một con dao găm và một ngọn đuốc, nổi tiếng vì đã giết một con bò thiêng.
Mithra_sacrifiant_le_Taureau-005