Showing posts with label thay. Show all posts
Showing posts with label thay. Show all posts

Friday, May 10, 2013

The Mark of Athena - Chương 18

The Mark of Athena


Dấu hiệu Athena


Chương 18


Annabeth


9aphrodite


ĐÊM ĐÓ, ANNABETH NGỦ MỘT GIẤC KHÔNG MỘNG MỊ, điều này chỉ làm cô thêm bồn chồn khi thức giấc - như sự yên bình trước một cơn bão vậy.
Leo cho tàu thả neo tại một cầu tàu ở Bến Cảng Charleston, ngay cạnh con đê chắn sóng. Dọc bờ biển là một khu dân cư cổ kính với những biệt thự lớn, những hàng cọ và hàng rào thép uốn. Những khẩu thần công cổ chĩa nòng súng xuống mặt nước.
Lúc Annabeth lên boong thì Jason, Frank và Leo đã trên đường đi tới bảo tàng rồi. Theo lời HLV Hedge, họ đã hứa sẽ trở lại vào lúc hoàng hôn. Piper và Hazel đã sẵn sàng khởi hành, nhưng trước tiên Annabeth quay về phía Percy, cậu đang đứng tựa vào tay vịn lan can, chăm chăm nhìn ra con vịnh.
Annabeth nắm lấy tay cậu. "Cậu định làm gì lúc bọn mình đi?"
"Nhảy xuống khu cảng," cậu nói rất bình thản, kiểu như những đứa trẻ khác vẫn nói, Mình sẽ kiếm ít đồ ăn vặt. "Mình muốn thử liên lạc với đám Nereid trong vùng. Có lẽ họ có thể cho mình vài lời khuyên về cách giải cứu đám sinh vật bị bắt nhốt ở Atlanta. Hơn nữa, mình nghĩ có lẽ biển sẽ tốt cho mình. Ở trong cái thủy cung đó khiến mình cảm thấy...không sạch sẽ."
Tóc cậu vẫn sẫm màu và rối bù như mọi khi, nhưng Annabeth nghĩ đến những lọn tóc bạc cậu từng có ở một bên đầu. Hồi bọn họ mười bốn tuổi, họ từng (bị buộc phải) thay nhau chống đỡ bầu trời. Áp lực khiến một ít tóc của cả hai bọn họ chuyển bạc. Suốt năm vừa rồi, trong lúc Percy mất tích, những vệt tóc bạc trên đầu cả hai người cuối cùng cũng đã biến mất, điều này lại khiến Annabeth cảm thấy hơi lo. Cô có cảm giác như thể mình đã mất đi một mối ràng buộc tượng trưng nào đó với Percy vậy.
Annabeth hôn cậu. "Chúc may mắn, Óc Tảo Biển, chỉ cần nhớ quay lại với mình, được chứ?"
"Mình sẽ quay lại." Cậu hứa. "Cậu cũng vậy nhé."
Annabeth cố dằn xuống nỗi bồn chồn đang lớn dần trong lòng.
Cô quay về phía Piper và Hazel. "Được rồi, các quý cô, đi tìm hồn ma Battery nào."
Sau này, Annabeth ước rằng cô đã nhảy xuống khu cảng cùng Percy. Thậm chí cô thà chọn một bảo tàng đầy ma còn hơn.
Không phải là cô không thích đi dạo cùng Piper và Hazel. Ban đầu, họ khá là vui vẻ khi dạo khắp đường kè Battery. Theo như biển chỉ dẫn thì công viên bên bờ biển đó tên là vườn White Point[1]. Làn gió biển cuốn trôi cái nóng oi bức của buổi chiều hè và dưới bóng những hàng cọ lùn, không khí mát mẻ dễ chịu. Ven con đường là một hàng những khẩu thần công từ thời Nội Chiến và tượng các nhân vật lịch sử bằng đồng khiến Annabeth rùng mình. Cô nhớ đến những bức tượng ở New York trong Cuộc chiến Titan, những bức tượng đã sống lại nhờ chuỗi lệnh hai mươi ba của Deadalus. Cô thắc mắc liệu cả nước còn có bao nhiêu bức tượng là người máy bí mật đang chờ được khởi động.
Cảng Charleston lấp lánh dưới ánh mặt trời. Ở phía bắc và nam, những dải đất vươn ra như những cánh tay ôm lấy con vịnh và chễm chệ ngay cửa cảng, cách khoảng một dặm phía ngoài là hòn đảo với một đồn công sự bằng đá. Annabeth nhớ mang máng cái đồn đó khá quan trọng trong cuộc Nội Chiến, nhưng cô cũng chẳng nghĩ nhiều đến việc ấy làm gì.
Chủ yếu cô chỉ hít thở làn hơi biển và nghĩ đến Percy. Cầu trời đừng để cô phải chia tay với cậu. Cô sẽ không bao giờ có thể ra biển lần nữa mà không nghĩ đến trái tim tan vỡ của mình mất. Cô nhẹ cả người khi họ đi khỏi con đê chắn sóng và thăm dò phần đất liền của vườn hoa.
Công viên không đông người cho lắm. Annabeth cho rằng hầu hết người dân địa phương đã đi nghỉ hè hoặc trốn trong nhà ngủ trưa. Ba người tản bộ dọc con phố Nam Battery, con phố có hàng biệt thự bốn tầng kiểu thời thuộc địa[2]. Những bức tường gạch phủ đầy thường xuân. Mặt tiền các ngôi biệt thự có những hàng cột cao vút như các ngôi đền La Mã. Những khoảnh vườn trước tràn ngập hoa hồng, hoa kim ngân và hoa giấy nở rộ. Trông cứ như thể Demeter đã đặt đồng hồ của tất cả những cây này ở chế độ nảy nở từ vài thập kỷ trước rồi quên quay lại kiểm tra thì phải.
"Nó đại khái làm em nhớ đến Rome Mới," Hazel nói. "Tất cả đám biệt thự rồi vườn hoa, rồi cột với mái vòm đó."
Annabeth gật đầu. Cô nhớ cô đã đọc được rằng trước thời nội chiến, Miền Nam nước Mỹ thường so sánh mình với Rome ra sao. Thời trước, xã hội của họ chỉ toàn nghệ thuật kiến trúc đầy ấn tượng, danh dự và phong thái hào hoa. Còn về mặt xấu xa, nó lại liên quan tới chế độ nô lệ. Thành Rome có nô lệ, một vài người miền Nam biện luận, Thì sao chúng ta không thể có cơ chứ?
Annabeth rùng mình. Cô yêu kiến trúc ở nơi này. Những ngôi nhà và vườn hoa rất đẹp, rất đậm chất La Mã. Nhưng cô tự hỏi tại sao những thứ đẹp đẽ lại cứ phải mang một lớp vỏ lịch sử đen tối. Hay là ngược lại? Phải chăng chính cái lịch sử xấu xa khiến người ta cần phải dựng nên những thứ xinh đẹp để che đậy những mặt đen tối đó?
Cô lắc lắc đầu. Percy sẽ ghét việc cô trở nên triết lý như vậy. Cô mà thử nói với cậu những thứ ấy như vậy, mắt cậu sẽ dại ra.
Hai cô gái còn lại không nói gì nhiều.
Piper liên tục nhìn quanh như thể cô đang chờ đợi một cuộc phục kích. Cô nói cô đã nhìn thấy công viên này trên lưỡi dao của mình, nhưng cô không chịu kể chi tiết. Annabeth đoán cô bạn sợ phải làm vậy. Nói cho cùng thì, lần cuối Piper cố giải nghĩa những hình ảnh trong con dao của cô, Percy và Jason đã suýt giết nhau ở Kansas.
Hazel cũng có vẻ lơ đãng. Có lẽ con bé đang quan sát xung quanh, hay có thể là đang nghĩ về em trai mình. Trong vòng chưa đầy bốn ngày nữa, trừ phi họ tìm thấy Nico và giải thoát thằng bé, không nó sẽ chết.
Annabeth cũng cảm thấy cái hạn đó đang đè nặng lên cô. Cô luôn có những cảm xúc lẫn lộn về Nico di Angelo. Cô ngờ rằng cậu đã đổ lỗi cho cô từ dạo cô cứu cậu và chị gái Bianca của cậu khỏi cái học viện quân sự ở Maine đó, nhưng Annabeth chưa từng có hứng thú với Nico. Cậu quá trẻ và quá ủ rũ. Có một phần tối tăm trong cậu khiến Annabeth không thoải mái.
Dẫu vậy, cô vẫn cảm thấy có trách nhiệm với cậu. Hồi họ mới gặp nhau, chưa ai trong số họ biết về người chị gái cùng cha khác mẹ của cậu, Hazel. Lúc đó, Bianca là người thân duy nhất còn sống của cậu. Khi cô mất, Nico trở thành đứa trẻ mồ côi không nơi nương tựa, một mình lang bạt trên thế gian. Annabeth có thể có liên quan tới chuyện đó.
Cô mải nghĩ ngợi đến nỗi có thể cô đã cứ thế mà đi dạo quanh công viên mãi, nhưng Piper túm lấy tay cô.
"Kia kìa." Cô chỉ ra phía kia bến cảng. Cách một trăm thước ngoài xa, một bóng hình trắng lấp lánh đang dập dềnh trên mặt nước. Ban đầu, Annabeth nghĩ đó là một cái phao hay xuồng cứu hộ đang phản chiếu ánh sáng mặt trời, nhưng rõ ràng nó đang phát sáng và chuyển động êm hơn một chiếc xuồng, tạo một đường thẳng tiến về phía họ. Khi vật thể đó tiến lại gần, Annabeth nhận ra đó là hình dáng một người phụ nữ.
"Hồn ma," Cô nói.
"Đó không phải một hồn ma," Hazel nói. "Không có loại hồn phách nào lại tỏa sáng rực rỡ như vậy."
Annabeth tin lời bạn cô nói. Cô không thể tưởng tượng mình là Hazel, chết từ khi còn quá trẻ như vậy, rồi quay trở lại từ Âm phủ, biết nhiều về người chết hơn cả người sống.
Như bị thôi miên, Piper băng qua con đường và đi về phía con đê chắn sóng, tránh được một cỗ xe ngựa chỉ trong đường tơ kẽ tóc.
"Piper!" Annabeth gọi.
"Tốt nhất là bọn mình nên theo chị ấy đi". Hazel nói.
Đến lúc Annabeth và Hazel theo kịp cô thì hồn ma chỉ còn cách có vài sải.
Piper lườm nó như thể nhìn thấy nó khiến cô bị xúc phạm.
"Quả nhiên là bà ấy." Cô gầm gừ.
Annabeth hé mắt nhìn hồn ma, nhưng nó phát sáng quá chói để có thể nhìn rõ chi tiết. Rồi bóng ma bay lên khỏi con đê chắn sóng và dừng ngay trước mặt bọn họ. Vầng sáng mờ đi.
Annabeth hít sâu một hơi. Người phụ nữ đó đẹp đến nghẹt thở, và quen thuộc một cách kỳ lạ. Khuôn mặt của bà ta thật khó miêu tả. Diện mạo bà ta dường như biến đổi từ những đường nét của hết diễn viên điện ảnh quyến rũ này đến những minh tinh màn bạc khác. Đôi mắt bà ta lấp lánh tinh nghịch - lúc thì xanh dương, khi thì xanh lá, lúc lại màu hổ phách. Mái tóc bà ta biến đổi từ tóc vàng dài và thẳng sang những lọn xoăn màu nâu sô-cô-la sẫm.
Ngay lập tức, Annabeth cảm thấy ghen tị. Cô luôn ước mình có một mái tóc sẫm màu. Cô có cảm giác không ai coi trọng một cô gái tóc vàng như cô. Cô phải cố gắng gấp đôi để được công nhận là một nhà chiến lược, một kiến trúc sư, một cố vấn trẻ tuổi - bất cứ thứ gì có liên quan đến đầu óc.
Người phụ nữ ăn mặc như một người đẹp Phương Nam, y như Jason miêu tả. Bộ đồ bà ta có phần thân trên xẻ sâu bằng lụa hồng và phần chân váy ba tầng và viền ren vỏ sò màu trắng. Bà ta đeo một đôi găng lụa dài màu trắng và cầm một cây quạt gắn lông vũ màu trắng-hồng.
Dường như mọi thứ trên người bà ta đều được tính toán để khiến Annabeth thấy thua kém: từ phong thái thoải mái khi bà mặc chiếc váy, cách trang điểm hoàn hảo mà không lộ liễu, đến cái cách bà ta tỏa nét quyến rũ nữ tính mà không một người đàn ông nào có thể cưỡng lại.
Annabeth nhận ra nỗi ghen tị của mình là bất hợp lý. Người phụ nữ này đang khiến cô cảm thấy như vậy. Cô từng có trải nghiệm này trước đây rồi. Cô nhận ra người phụ nữ này, dù mặt "bà ta" không ngừng biến đổi mỗi giây, càng lúc càng đẹp hơn.
"Aphrodite," cô nói.
"Venus?" Hazel kinh ngạc hỏi.
"Mẹ." Piper nói, không chút hào hứng.
"Các cô gái!" Vị nữ thần giang rộng tay như muốn một cái ôm tập thể.
Ba cô gái á thần không nghe theo. Hazel lùi về phía một gốc cọ lùn.
"Ta rất mừng là các con ở đây." Aphrodite nói. "Chiến tranh đang đến. Đổ máu là không thể tránh khỏi. Vậy nên chỉ có một việc duy nhất phải làm."
"Ờ...và đó là?" Annabeth đánh bạo hỏi.
"Sao cơ, hiển nhiên là uống trà và tán gẫu rồi. Theo ta nào!"
Aphrodite rất biết cách mở một buổi tiệc trà.
Bà dẫn ba người đến mái đình hóng mát[3] ở trung tâm vườn hoa - một vọng lâu[4] với những cây cột trắng, nơi có một chiếc bàn đã sắp sẵn đồ bạc, chén sứ Tàu và tất nhiên là cả một ấm trà nóng nghi ngút, hương trà cũng dễ dàng thay đổi như Aphrodite thay hình đổi dạng vậy - lúc là hương quế, khi là hương nhài, lúc lại là hương bạc hà. Trên bàn còn có một đĩa đầy bánh lúa mạch[5], bánh quy và bánh nướng xốp cùng với bơ tươi và mứt - tất cả, Annabeth nhận thấy, đều dễ gây béo khủng khiếp, trừ phi, dĩ nhiên rồi, bạn là nữ thần tình yêu bất tử.
Aphrodite ngồi - hay đúng hơn, thiết triều - trên một chiếc ghế con công[6] bằng liễu gai. Bà rót trà và mời bánh mà không bị rây một vệt nào ra váy áo, tư thế của bà luôn hoàn hảo, nụ cười của bà thì chói lóa.
Họ càng ngồi lâu, Annabeth càng thấy ghét bà ta hơn.
"Ôi, các cô gái ngọt ngào của ta," nữ thần nói. "Ta yêu Charleston lắm lắm ý! Những đám cưới ta đã tham dự ở vọng lâu này - chúng khiến ta rơi lệ. Và cả những vũ hội hồi Miền Nam Cũ nữa. A, chúng mới đáng yêu làm sao. Ở vườn của rất nhiều biệt thự trong số những biệt thự kia vẫn có tượng của ta, dù họ gọi ta là Venus.
"Người nào mới là bà?" Annabeth hỏi. "Venus hay Aphrodite?"
Nữ thần nhấp một ngụm trà. Mắt bà ta lóe lên vẻ tinh quái. "Annabeth Chase, cháu đã lớn phổng lên thành một quý cô trẻ xinh đẹp rồi đấy. Tuy vậy, cháu thực sự nên làm gì đó với mái tóc của mình. Và, Hazel Levesqe, quần áo của cháu-"
"Quần áo của cháu?" Piper nhìn xuống bộ đồ bò nhàu nhĩ của mình - không phải theo kiểu ngượng ngập lúng túng, mà chỉ bối rối, như thể cô không tưởng tượng được chúng có gì không ổn.
"Mẹ!" Piper nói. "Mẹ làm con xấu hổ đấy."
"Chà, ta không thấy có lý do nào khiến con cảm thấy xấu hổ cả." Vị nữ thần nói. "Chỉ vì con không coi trọng những bí quyết về thời trang của ta, Piper ạ, không có nghĩa là những người khác cũng không thích. Ta có thể "cải tạo" nhanh cho Annabeth và Hazel, có lẽ với những bộ váy dạ hội bằng lụa giống của ta-"
"Mẹ!"
"Được thôi," Aphrodites thở dài. "Và để trả lời câu hỏi của cháu, Annabeth, cả Aphrodite lẫn Venus đều là ta. Không như những người bạn Olympus của ta, ta hầu như không hề thay đổi theo năm tháng. Thật ra, ta thích nghĩ rằng ta không hề già đi tẹo nào!" Vị nữ thần vỗ vỗ lên khuôn mặt mình đầy tán thưởng." Dù gì đi nữa, tình yêu vẫn cứ là tình yêu, có là người La Mã hay người Hy Lạp cũng vậy thôi. Cuộc nội chiến này sẽ không ảnh hưởng nhiều tới ta như tới những người khác."
Tuyệt thật, Annabeth nghĩ. Mẹ của cô, một trong những vị thần Olympus trí tuệ nhất, bị biến thành một kẻ loạn trí hằn học lang thang trong một ga điện ngầm. Và trong số tất cả những vị thần có thể giúp họ, những kẻ duy nhất có vẻ không bị ảnh hưởng bởi sự giằng xé Hy Lạp-La Mã này là Aphrodite, Nemesis, và Dionysus. Tình yêu, báo thù và rượu vang. Hữu ích ghê.
Hazel gặm một miếng bánh quy đường. "Vẫn chưa có chiến tranh mà, thưa nữ thần."
"Ôi, Hazel yêu quý," Aphrodite gấp cây quạt của bà ta lại. "Thật là lạc quan làm sao, nhưng cháu sẽ phải đối mặt với những ngày tháng buồn đau phía trước. Dĩ nhiên là chiến tranh sẽ nổ ra. Tình yêu và chiến tranh luôn đồng hành với nhau. Chúng là những đỉnh cao của cảm xúc con người! Cái ác và cái thiện, cái đẹp và xấu xa.
Nữ thần cười với Annabeth như thể bà ta biết trước đó cô đã nghĩ gì về Miền Nam cũ.
Hazel đặt miếng bánh quy đường của cô xuống. Một ít vụn bánh dính trên cằm cô và Annabeth thích việc cô bạn không biết hoặc không buồn quan tâm đến chuyện đó.
"Ý bà là sao khi nói," Hazel hỏi, "ngày tháng buồn đau?"
Nữ thần cười ngất như thể Hazel là một chú cún con dễ thương." Chà, Annabeth có thể có vài gợi ý cho cháu đấy. Ta từng hứa sẽ làm cho đường tình duyên của con bé trở nên thú vị. Và ta đã làm vậy, không phải sao?"
Annabeth suýt nữa bẻ gãy quai tách trà của cô. Hàng nhiều năm trời, trái tim cô đã bị giằng xé. Đầu tiên là Luke Castellan, mối tình đầu của cô, người chỉ coi cô như em gái, rồi anh chuyển sang phe xấu và quả quyết rằng anh thích cô - ngay trước khi anh chết. Sau đó thì Percy đến, cậu khiến người ta điên tiết nhưng cũng rất dễ thương, thế nhưng cậu dường như lại phải lòng một cô gái khác tên là Rachel và rồi cậu suýt chết, vài lần liền. Cuối cùng thì Annabeth cũng có được Percy, chỉ để chịu đựng việc cậu bị mất tích trong sáu tháng và mất luôn cả trí nhớ.
"Thú vị," Annabeth nói, là một cách hòa nhã để diễn tả sự việc đó."
"Chà, ta không thể nhận hết công lao cho tất cả những rắc rối của cháu được," vị nữ thần nói. "Nhưng ta luôn thích những chỗ ngoắt ngoéo trong một câu chuyện tình. Ồ, cả ba người đều là những câu chuyện xuất sắc - ý ta là, các cô gái, các con khiến ta tự hào!"
"Mẹ," Piper nói, "có lý do nào để mẹ ở đây không?"
"Hửm? Ồ, ý con là ngoài việc uống trà ra á? Ta thường đến đây mà. Ta yêu quang cảnh, đồ ăn, không khí nơi đây - con có thể ngửi thấy sự lãng mạn và cả thất tình trong không khí, không phải sao? Hàng thế kỷ chồng chất những thứ đó.
Bà chỉ ra một biệt thự gần đó. "Các con có thấy cái sân thượng trên mái kia không? Chúng ta từng mở một buổi tiệc vào cái đêm cuộc Nội chiến mở màn. Đêm nổ súng trận đồn Sumter[7]."
"Chính là nó!" Annabeth nhớ ra. "Hòn đảo ở bến cảng. Đó là nơi trận đầu tiên trong cuộc nội chiến diễn ra. Liên minh miền nam nổ súng với Liên bang miền Bắc và chiếm cái đồn đó."
"Ôi, một bữa tiệc ra tiệc!" Aphrodite nói. "Một dàn tứ tấu dây[8] và tất cả đàn ông đều mặc quân phục. Những bộ váy của phụ nữ - các con phải thấy chúng! Ta đã nhảy với Ares - hay là Mars nhỉ? Ta e rằng lúc đó ta hơi ngà ngà. Và những luồn sáng xinh đẹp khắp bến cảng, tiếng gầm của đại bác mang đến cho những người đàn ông cơ hội được vòng tay ôm những người tình đang kinh hãi của họ!"
Trà của Annabeth lạnh ngắt. Cô chưa ăn gì, nhưng cô cảm thấy buồn nôn.
"Bà đang nói về sự mở màn của một trong những cuộc chiến đẫm máu nhất lịch sử nước Mỹ đấy. Hơn sáu trăm nghìn người chết - còn nhiều hơn số người Mỹ đã chết trong cả Thế chiến thứ nhất và thứ hai cộng lại."
"Và những món ăn!" Aphrodite tiếp tục. "A, chúng còn trên cả tuyệt vời. Đích thân tướng Beauregard đã hiện diện ở đó. Thật là một anh chàng trăng hoa. Lúc đó anh ta đi cùng với người vợ thứ hai, nhưng các cháu phải thấy cái cách anh ta nhìn Lisbeth Cooper-"
"Mẹ!" Piper ném chiếc bánh lúa mạch của cô cho lũ bồ câu.
"Ờ, xin lỗi," vị nữ thần nói. "Tóm lại là, ta ở đây để giúp các con, các cô gái ạ. Ta ngờ rằng các con sẽ chẳng gặp được Hera mấy đâu. Nhiệm vụ nho nhỏ của các con khiến bà ta chẳng được chào đón là bao trong đại điện. Và các thần khác thì hơi khó ở, các con biết đấy, bị giằng xé giữa hai phần La Mã và Hy Lạp trong họ. Người bị nhẹ, người bị nặng." Aphrodite nhìn sang Annabeth. "Ta đoán cháu đã kể cho các bạn nghe về chuyện bất hòa với mẹ cháu rồi chứ?"
Má Annabeth nóng lên. Hazel và Piper nhìn cô tò mò.
"Bất hòa?" Hazel hỏi.
"Một cuộc tranh cãi," Annabeth đáp. "Không có gì đâu mà."
"Không có gì sao!" nữ thần nói. "Chà, ta không biết nữa. Athena là nữ thần đậm chất Hy Lạp nhất trong các nữ thần. Dù gì đi nữa, là người bảo trợ của Athens. Khi những người La Mã xâm chiếm..ờ, họ thu nhận Athena theo kiểu nào đó. Cô ấy trở thành Minerva, nữ thần của sự khéo léo và khôn ngoan. Nhưng người La Mã có những vị thần khác được ưa chuộng hơn, đáng tin cậy hơn - như Bellona[9]-"
"Mẹ của Reyna," Piper lẩm bẩm.
"Ừ, đúng vậy," nữ thần đồng ý. "Ta từng có một cuộc trò chuyện dễ thương với Reyna cách đây không lâu, ngay trong công viên này. Và dĩ nhiên, người La Mã có Mars. Và sau đó là Mithras[10] - còn không phải thần Hy Lạp hay La Mã thực sự, nhưng đám lính trong binh đoàn sùng bái hắn. Riêng ta luôn thấy hắn thô bỉ và khoe mẽ khủng khiếp. Dù sao thì người La Mã gần như cho Athena tội nghiệp ra rìa. Họ tước đi hầu hết quyền năng quân sự của cô ấy. Người Hy Lạp không bao giờ tha thứ cho người La Mã về nỗi sỉ nhục đó. Và Athena cũng vậy."
Tai Annabeth ù ù. "Dấu Hiệu Athena," cô nói. "Nó dẫn đường tới một bức tượng, phải không ạ? Nó dẫn lối tới...tới bức tượng đó."
Aphrodite mỉm cười. "Cháu rất khôn ngoan, như mẹ cháu vậy. Nhưng hãy hiểu rằng, các anh chị em của cháu, con cái Athena, đã kiếm tìm nó từ nhiều thế kỷ nay. Chưa ai thành công trong việc khôi phục bức tượng đó. Cho tới lúc này, họ vẫn mang mối thù với người La Mã. Mọi cuộc nội chiến...thật nhiều máu đổ và bao nhiêu trái tim tan vỡ...đều do những đứa con của Athena gây ra."
"Chuyện đó..." Annabeth muốn nói rằng điều đó là không thể, nhưng cô nhớ lại những lời cay đắng của Athena ở Ga điện ngầm Trung tâm, lửa hận bùng cháy trong mắt cô.
"Thật lãng mạn ư?" Aphrodite gợi ý. "Phải, ta cho là vậy."
"Nhưng mà.." Annabeth cố xua tan màn sương mờ mịt trong óc. "Dấu Hiệu Athena đó, nó hoạt động như thế nào? Nó là một lọat những gợi ý, hay dấu vết Athena để lại?"
"Ta không biết. Ta không nghĩ Athena có chủ ý tạo ra Dấu Hiệu đó. Nếu cô ấy biết bức tượng của mình ở đâu, cô ấy sẽ chỉ đơn giản là nói cho cháu biết mà tìm nó. Không...Ta đoán Dấu hiệu đó giống một vệt vụn bánh mỳ tượng trưng vậy. Nó là mối liên kết giữa bức tượng và những đứa con của nữ thần. Bức tượng muốn được tìm thấy, cháu thấy đấy, nhưng nó chỉ có thể được giải thoát bởi người xứng đáng nhất."
"Và trong suốt hàng ngàn năm," Annabeth nói, "không ai làm được việc đó."
"Khoan đã," Piper nói. "Chúng ta đang nói về bức tượng nào thế?"
Nữ thần cười. "Ồ, ta chắc là Annabeth có thể cung cấp đầy đủ thông tin cho con. Dù gì thì, manh mối mà các con cần đang ở rất gần: một tấm bản đồ tổng hợp, được truyền lại từ những người con của Athena vào năm 1861 - một kí ức bắt đầu trên hành trình của các con, ngay khi các con tới Rome. Nhưng như cháu đã nói, Annabeth Chase, chưa từng có ai theo được Dấu Hiệu Athena tới cùng. Ở đó, cháu sẽ phải đương đầu với nỗi sợ hãi lớn nhất đời cháu - nỗi sợ của tất cả con cái Athena. Và dù cháu có sống sót, cháu sẽ làm gì với phần thưởng của cháu? Cho chiến tranh hay cho hòa bình?"
Annabeth mừng vì có chiếc khăn trải bàn, vì dưới mặt bàn, chân cô đang run rẩy. "Tấm bản đồ này," cô hỏi, "nó ở đâu ạ?"
"Mọi người!" Hazel chỉ lên bầu trời. Bay vòng vòng trên hàng cọ lùn là hai con đại bàng lớn. Ở trên cao, một chiếc chiến xa bay được kéo bởi đám pegasus đang ầm ầm lao xuống. Rõ ràng là kế đánh lạc hướng bằng cái bàn Buford không có hiệu quả - ít ra cũng chả hiệu quả được lâu.
Aphrodite phết bơ lên một cái bánh nướng xốp như thể bà ta có toàn bộ thời gian trên thế giới.

"Ồ, tấm bản đồ ở trong đồn Sumter, dĩ nhiên rồi." Bà chỉ con dao phết bơ về phía hòn đảo ngoài bến cảng. "Có vẻ như những người La Mã đã đến nơi để ngăn các con. Ta mà là các con thì ta sẽ khẩn trương về tàu. Các con có muốn một ít bánh mang về không?"

Fancy Cross Page Divider


[1] White Point Garden - Một khu vườn ở gần càng Charleston.
[2] Colonial mansion-biệt thự theo lối kiến trúc thời thuộc địa: Có nhiều kiểu kiến trúc khác nhau của nhiều thời kỳ thuộc địa khác nhau, ở đây không nói rõ là thời kỳ nào, nhưng theo những thông tin mà mình tìm hiểu được thì có lẽ những ngôi biệt thự được nhắc tới ở đây thuộc lối kiến trúc Georgian-lối kiến trúc phổ biến của thời thuộc địa vua George. Đặc trưng của lối kiến trúc này là nhà được xây bằng gạch kiên cố với cột gỗ, thường có một phòng khách, một phòng ăn tiêu chuẩn, đôi khi có cả một phòng sinh hoạt gia đình, và các phòng ngủ được đặt trên tầng hai.
nhà
[3] pavillion- đình hóng mát, chỉ gồm cột và mái che, thường được xây theo hình bát giác, bên trong thường có bàn và ghế đá để ngồi ngắm cảnh, giống mấy cái đình thủy tạ của Trung Quốc.
Đình hóng mát vườn White Point
vườn
[4] gazebo-vọng lâu, cũng giống như đình hóng mát, là chỗ để ngồi ngắm cảnh, 2 nơi nhắc đến trong truyện là 1, chỉ nhiều tên gọi khác nhau thôi
[5] Scone: bánh nướng làm từ bột mì hoặc bột cháo yến mạch, thường được ăn khi uống trà.
bánh
[6] peacock chair: loại ghế có phần lưng tựa xòe ra giống như đuôi công, thường được làm từ cây liễu gai.
ghế con công
[7] Trận đồn Sumter là một cuộc pháo kích đã bức hàng đồn quân sự Sumter, là trận đánh đầu tiên chính thức mở màn cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Sau khi 7 tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ tuyên bố ly khai tách khỏi Liên bang, Nam Carolina đã yêu cầu quân đội miền Bắc rút khỏi các căn cứ của mình tại cảng Charleston. Ngày 26 tháng 12 năm 1860, thiếu tá miền Bắc Robert Anderson đã bí mật dời bộ chỉ huy của mình từ đồn Moultrie vốn không thể phòng thủ tại thị trấn Sullivan's Island đến đồn Sumter, một pháo đài trọng yếu kiểm soát lối ra vào cảng Charleston. Tổng thống James Buchanan đã cố gắng tăng viện và tiếp tế cho Anderson bằng con tàu buôn không vũ trang mang tên Ngôi sao miền Tây, nhưng thất bại khi tàu này bị các khẩu đội pháo binh bờ biển miền Nam tấn công vào ngày 9 tháng 1 năm 1861. Chính quyền Nam Carolina sau đó đã chiếm đóng tất cả các căn cứ của Liên bang trong khu vực Charleston, ngoại trừ đồn Sumter.
[8] string quartet - dàn tứ tấu dây: một dàn nhạc gồm bốn nhạc cụ thuộc bộ dây, thường bao gồm hai violin, một viola và một cello.
Holmes String Quartet
[9] Bellona, nữ thần chiến tranh La Mã, là một vị thần quan trọng với người La Mã, cai quản chính sách đối ngoại với các nước khác trong chiến tranh. Nữ thần này rất thân thiết với Mars-nam thần chiến tranh, thường được biết đến như người đồng hành của Mars. Bà được cho là vợ, con gái hoặc người đánh chiến xa cho Mars, nhưng thường được gọi là em gái song sinh của vị thần chiến tranh này hơn.
bellona
[10] Mithdras- thần của các chiến binh La Mã, là một vị thần Ba Tư được người Hy Lạp tiếp nhận nhưng lại có đền thờ chính ở Rome. Những người lính trong các binh đoàn thành Rome rất tôn sùng vị thần này. Vị thần này được sinh ra từ đá, cầm một con dao găm và một ngọn đuốc, nổi tiếng vì đã giết một con bò thiêng.
Mithra_sacrifiant_le_Taureau-005

Sunday, February 24, 2013

The Mark of Athena _ Chương 13

Dấu hiệu Athena


Chương 13


Percy


ch13



QUÊN XỪ NÓ MẤY CÁI MÀN KHÓI MÙI GÀ NUGGET ĐI. Percy chỉ muốn Leo phát minh ra một cái mũ chống-mơ thôi.

Đêm đó cậu đã có những cơn ác mộng kinh hoàng. Lúc đầu, cậu mơ mình trở lại Alaska trong cuộc tìm kiếm con đại bàng của quân đoàn. Cậu đang cuốc bộ dọc một đường núi, nhưng ngay khi cậu bước chệch khỏi lề đường thì bị nuốt chửng bởi một vũng lầy__hố bùn. Hazel gọi thế. Cậu thấy mình đang chết ngạt giữa đống bùn, không thể cử động cũng chẳng thấy gì hay thở được nữa. Lần đầu tiên trong đời cậu hiểu được chết chìm là như thế nào.

Chỉ là một giấc mơ thôi, cậu tự nhủ. Mình sẽ tỉnh lại.

Nhưng việc đó không làm nó bớt khủng khiếp đi chút nào.

Percy chưa bao giờ sợ nước. Nó là quyền năng của cha cậu. Nhưng từ khi trải qua việc bị chìm dưới hố bùn, cậu thấy sợ bị nghẹt thở. Cậu không bao giờ có thể thừa nhận điều này với bất cứ ai, nhưng nó khiến cậu căng thẳng mỗi khi đi trong nước. Cậu biết thế thì thật đần. Cậu không chết đuối được. Nhưng cậu cũng ngờ rằng nếu cậu không thể kiểm soát nỗi sợ thì nó sẽ bắt đầu kiểm soát cậu.

Cậu nghĩ về bạn mình Thalia, người rất sợ độ cao dù là con gái của vị thần cai quản bầu trời. Em trai cô, Jason, có thể bay bằng cách triệu hồi gió. Thalia không làm được, có lẽ bởi cô quá sợ không dám thử. Nếu Percy bắt đầu tin mình có thể chết đuối…

Bùn lại ép chặt ngực cậu. Phổi cậu muốn vỡ tung.

Đừng sợ nữa, cậu tự nhủ. Không phải thật đâu.

Chỉ khi cậu không thể nín thở lâu thêm nữa, cảnh mộng mới thay đổi.

Cậu đứng ở một nơi rộng lớn ảm đạm như một gara đỗ xe ngầm. Các dãy cột đá chạy theo mọi hướng, giữ vững trần nhà cao tầm hai mươi feet phía trên. Những lò than không giá đỡ[1] hắt một thứ ánh sáng đo đỏ mờ mờ xuống sàn nhà.

Percy không nhìn được xa lắm trong bóng tối nhưng thấy có một hệ thống ròng rọc, những túi cát và từng hàng đèn sân khấu còn tối thui thui treo trên trần nhà. Chất đống quanh phòng là những thùng gỗ dán nhãn: ĐẠO CỤ, VŨ KHÍ và PHỤC TRANG. Một cái ghi: DÀN PHÓNG TÊN LỬA ĐA NĂNG.

Percy nghe thấy tiếng máy móc cót két trong bóng tối, tiếng bánh răng khổng lồ vận hành và tiếng nước chảy cuồn cuộn trong đường ống.

Rồi cậu thấy tên khổng lồ…hay ít nhất Percy đoán gã là một tên khổng lồ.

Gã cao khoảng mười hai bộ (3.7m)__một chiều cao đáng ngưỡng mộ đối với một Cyclop[2] nhưng chỉ cao bằng một nửa số khổng lồ khác Percy từng đối mặt. Gã cũng trông giống người hơn một tên khổng lồ điển hình, vì không có chân rồng giống các họ hàng khác của mình. Tuy thế, mái tóc dài màu tím của gã được bện thành những lọn dài hình đuôi ngựa [3], đan cài các đồng tiền vàng và bạc gây ấn tượng ngay với Percy về một kiểu tóc rất khổng lồ. Gã giắt một cây giáo tầm mười bộ (3m)__một thứ vũ khí cũng rất khổng lồ.

Gã vận áo cao cổ màu đen bự nhất mà Percy từng thấy rồi quần đen cùng đôi giày da đen với mũi giày quá dài và cong, có khi là giày của mấy chú hề. Gã đi tới đi lui trước một bậc thềm cao, kiểm tra cái hạp bằng đồng to cỡ Percy.

“Không, không, không,” tên khổng lồ lẩm bẩm một mình. “Gây giật gân thế nào? Tác dụng ra sao?” Gã réo vào bóng tối, “Otis!”

Percy nghe thấy thứ gì đó lê bước phía xa xa. Một tên khổng lồ khác bước ra từ bóng tối. Hắn mặc một bộ đồ đen y hệt, giống đến cả cái giày mũi cong. Điểm khác biệt duy nhất giữa hai tên khổng lồ là tóc tên thứ hai có vẻ xanh nhiều hơn là tím.

Tên khổng lồ thứ nhất nguyền rủa. “Qtis, sao ngày nào mày cũng làm thế với tao? Tao đã bảo mày là tao sẽ mặc áo cao cổ màu đen hôm nay cơ mà. Mày mặc gì cũng được trừ áo cao cổ đen ra!”

Otis chớp chớp mắt như gã vừa mới tỉnh ngủ. “Tao tưởng hôm nay mày mặc toga vàng cơ.”

“Là hôm qua! Khi mày cũng diện một chiếc toga vàng!”

“Ồ. Phải rồi. Xin lỗi mày, Ephie.”

Thằng anh gã gầm gừ. Bọn chúng chắc là song sinh vì hai khuôn mặt xấu y chang.

“Và đừng gọi tao là Ephie,” Ephie yêu cầu. “Gọi tao là Ephialtes. Đó mới là tên tao. Hay mày dùng nghệ danh của tao cũng được: F BỰ!” [4]

Otis nhăn nhó. “Tao vẫn không chắc cái nghệ danh đó hay cho lắm đâu.”

“Vớ vẩn! Nó hoàn mỹ. Giờ thì chuẩn bị tới đâu rồi?”

“Ổn.” Otis nghe không nhiệt tình cho lắm. “Con hổ ăn thịt người, các lưỡi cưa tròn [5]…Nhưng tao vẫn thấy thêm lấy vài nữ vũ công ba lê thì tuyệt lắm.”

“Không vũ công gì sất!” Ephialtes ngắt lời. “Và thứ này.” Gã vẫy tay về phía cái hạp đồng vẻ kinh tởm. “Nó để làm gì? Chả hay gì hết.”

“Nhưng đó là toàn bộ mục đích của buổi diễn. Nó chết trừ khi mấy đứa khác tới cứu nó. Và nếu chúng tới đúng lịch trình__”

“Ồ, chúng nên làm thế!” Ephialtes bảo. “Ngày đầy tiên Tháng Bảy[*], Kalends của tháng bảy, ngày tôn vinh Juno. Đó là khi Mẹ muốn tiêu diệt lũ á thần ngu độn kia và thực sự văng một cái tát vào mặt Juno. Thêm nữa, tao không trả tiền làm ngoài giờ cho lũ ma giác đấu kia đâu!”

“Ờ, lúc đó chúng cũng chết hết rồi mà,” Otis nói, “và chúng ta bắt đầu tàn phá Rome. Như ý Mẹ muốn. Nó sẽ cực kì hoàn hảo. Đám đông sẽ thích mê. Bọn ma La Mã sùng bái kiểu này lắm.”

Ephialtes trông chả mấy tin tưởng. “Nhưng cái hạp cứ ì ra kia. Chúng ta không thể tạm treo nó lên trên một ngọn lửa hay làm tan chảy nó trong một cái hồ axit gì gì đó sao?”

“Chúng ta cần thằng nhóc sống sót thêm mấy ngày nữa,” Otis nhắc nhở anh trai gã. “Nếu không bảy đứa kia sẽ không mắc mưu mà vội vã đến cứu nó đâu.”

“Ừm. Tao cũng nghĩ thế. Tao vẫn thích có thêm chút tiếng la hét. Chết chậm thế này chán chết. À, thế người bạn tài năng của bọn ta đâu rồi? Bà ấy đã sẵn sàng tiếp khách chưa?”

Otis mặt buồn như dấm thiu. “Tao rất không thích nói chuyện với mụ. Mụ làm tao căng thẳng.”

“Nhưng mụ sẵn sàng chưa?”

“Rồi,” Otis miễn cưỡng đáp. “Mụ sẵn sàng cả mấy thế kỉ rồi ấy chớ. Chả ai lấy nổi cái tượng đó đi đâu.”

“Quá tuyệt.” Ephialtes xoa xoa tay dự đoán. “Cơ hội lớn của chúng ta đây, em trai ạ.”

“Đó cũng là điều mày nói về pha nhào lộn cuối cùng của tụi mình,” Otis lầm bầm. “Tao phải treo người trên tảng băng kẹt trên sông Lethe tận sáu tháng mà chẳng được bất cứ phương tiện truyền thông nào chú ý cả.”

“Lần này khác!” Ephialtes khăng khăng. “Chúng ta sẽ đặt tiêu chuẩn mới cho giải trí. Nếu Mẹ vui lòng, chúng ta sẽ tự mình viết nên tấm vé đến với tiền tài và danh vọng!”

“Nếu mày thích,” Otis thở dài. “Tuy vậy tao vẫn nghĩ những vũ công ba lê vận trang phục Hồ Thiên Nga trông sẽ yêu lắm__”

“Không ba lê!”

“Xin lỗi.”

“Nào,” Ephialtes nói. “Cùng đi kiểm tra bọn hổ nào. Tao muốn đảm bảo rằng chúng đang đói!”

Bọn khổng lồ ì ạch tiến vào bóng tối và Percy quay sang chiếc hạp.

Mình phải xem bên trong có gì, cậu nghĩ.

Cậu tập trung giấc mơ của mình tiến về phía trước, ngay trên bề mặt chiếc hạp. Rồi cậu xuyên qua bề mặt đó.

Không khí trong chiếc hạp có bốc mùi ôi thiu cùng mùi kim loại gỉ sét. Nguồn sáng duy nhất là thứ ánh sáng tím nhờ nhờ tới từ một thanh kiếm đen, lưỡi kiếm làm từ Sắt Âm [6] của nó dựa vào một bên thành hạp. Co ro cạnh đó là một cậu bé trông thật chán đời mặc chiếc quần jeans rách, áo sơ mi đen với một chiếc áo khoác phi công cũ. Trên tay phải cậu, một chiếc nhẫn bạc mặt đầu lâu sáng lấp lánh.

“Nico,” Percy gọi. Nhưng cậu con trai của Hades không thể nghe thấy gì.

Cái hạp bị hàn kín hoàn toàn. Không khí càng lúc càng độc. Mắt Nico nhắm nghiền, hơi thở nông yếu ớt. Cậu có vẻ như đang thiền định. Mặt cậu xanh nhợt và gầy gò hơn Percy nhớ.

Trên thành trong của cái hạp có ba vết xước hẳn do Nico đã dùng kiếm của mình tạo nên__có lẽ cậu đã bị cầm tù ba ngày rồi chăng?

Cậu không thể sống lâu đến thế mà không bị nghẹt thở được. Ngay cả trong mơ Percy cũng đã bắt đầu cảm thấy hoảng sợ, phải vật lộn mới có đủ được dưỡng khí.

Rồi cậu để ý thấy thứ gì đó giữa hai chân Nico__một bộ sưu tập nhỏ những vật lấp lánh bé hơn cả những chiếc răng của trẻ sơ sinh.

Hạt, Percy nhận ra. Hạt lựu. Ba hạt đã được ăn và nhổ ra. Năm hạt vẫn được bọc trong giấy màu đỏ thẫm.

“Nico,” Percy nói, “đây là đâu? Bọn anh sẽ cứu em…”

Hình ảnh nhòa đi và giọng của một cô gái thì thầm: “Percy.”

Lúc đầu Percy nghĩ cậu vẫn còn đang nhủ mơ. Khi mới mất trí nhớ cậu đã dành hàng tuần mơ về Annabeth, người duy nhất cậu nhớ được trong quá khứ. Khi mở mắt, cậu nhìn rõ hơn và cô ấy thực sự ở đó.

Cô đang đứng cạnh giường, mỉm cười nhìn xuống cậu.

Mái tóc vàng của cô xõa ngang vai. Đôi mắt xám màu giông tố ánh lên sự vui sướng. Cậu nhớ ngày đầu tiên của mình ở Trại Con Lai, năm năm trước khi cậu ngơ ngác tỉnh dậy và thấy Annabeth đứng cạnh. Cô đã nói, Cậu nhỏ dãi khi ngủ đấy.

Cô ấy đa cảm thế đấy.

“Cá__cái gì đang xảy ra vậy?” cậu hỏi. Chúng ta đến đó chưa?”

“Chưa,” cô bảo, giọng hơi trầm. “Giờ là nửa đêm .”

“Ý cậu là…” tim Percy bắt đầu loạn nhịp. Cậu nhận thấy mình đang mặc đồ ngủ, trên giường. Có lẽ cậu đã nhỏ dãi hay ít nhất là nói mớ lúc mơ. Chắc chắn cậu gặp vấn đền nghiêm trọng với mái tóc rối nùi và hơi thở không lấy gì làm thơm tho cho lắm. “Cậu lẻn vào buồng của mình hả?”

Annabeth đảo mắt. “Percy, hai thắng nữa là cậu mười bảy rồi đấy. Cậu không thể cứ mãi lo lắng gặp rắc rối với HLV Hedge thế chứ.”

“Ờ, cậu thấy cái gậy bóng chày của ổng chưa?”

“Còn nữa Óc Tảo Biển à, mình nghĩ hai đứa mình có thể đi dạo một chút. Chúng ta chưa có thời gian riêng tư ở bên nhau là mấy. Mình muốn cho cậu xem thứ này__nơi yêu thích của mình trên tàu.”

Mạch của Percy vẫn đập dồn, nhưng không phải vì sợ gặp rắc rối. “Mình có thể, cậu biết đấy, đánh răng được không?”

“Cậu nên làm thế,” Annabeth bảo. “Bởi vì mình sẽ không hôn cậu cho tới khi cậu đánh răng đâu. Và tiện thể gội đầu luôn đi nhé.” Đối với một thuyền chiến cổ ba tầng chèo, con tàu thật khổng lồ, nhưng vẫn ấm cúng đối với Percy__như tòa nhà kí túc xá của cậu ở Học viện Yancy hay bất kì trường nội trú nào đã đuổi cậu. Annabeth cùng cậu rón rén xuống khoang thứ hai, nơi Percy chưa từng khám phá qua, trừ bệnh xá ra.

Cô dẫn cậu qua phòng máy trông như một phòng tập cơ khí hóa lộn xộn và đầy nguy hiểm với những đường ống rồi pit tông[7] và các ống dẫn nhô ra từ một khối cầu bằng đồng ở trung tâm. Những sợi cáp hệt những sợi mì kim loại khổng lồ trườn khắp sàn tàu và chạy lên cả những bức tường.

“Thế quái nào mà cái thứ đó chạy được nhỉ?” Percy hỏi.

“Chả biết nữa,” Annabeth nói. “Và mình là người duy nhất ngoài Leo có thể vận hành nó.”

“Yên tâm thật đấy.”

“Sẽ ổn thôi mà. Nó chỉ suýt nổ có một lần.”

“Mong là cậu đang đùa.”

Cô mỉm cười. “Lại đây.”

Họ bước qua phòng trữ đồ và phòng vũ khí. Tới đuôi tàu, họ gặp một cánh cửa hai bản lề dẫn tới một chuồng ngựa lớn. Căn phòng có mùi cỏ tươi và chăn len. Nằm bên phía tường trái là ba chuồng ngựa trống, giống những cái chuồng họ thường dùng cho Pegasus ở trại. Bên tường phải có hai cái lồng đủ đồ sộ cho những con thú lớn ở sở thú.

Giữa sàn là một mặt kính hai mươi feet vuông trong suốt. Xa xa phía dưới, cảnh đêm lướt qua vùn vụt__hằng dặm làng quê tối om om, chằng chịt những đường cao tốc được chiếu sáng trông như những mảnh sợi của một chiếc lưới.

“Một chiếc thuyền đáy bằng kính sao?”

Annabeth vớ lấy một tấm chăn từ cửa chuồng gần nhất và trải nó lên một phần mặt kính. “Ngồi xuống với mình đi.”

Họ thư giãn trên chiếc chăn như thể đang đi dã ngoại và ngắm thế giới vùn vụt trôi phía dưới.

“Leo làm chuồng để lũ pegasus có thể tới lui dễ dàng,” Annabeth bảo. “Chỉ là cậu ấy không nhận ra rằng pegasus thích vơ vẩn tự do hơn, nên mấy cái chuồng luôn trống.”

Percy tự hỏi không biết Blackjack ở đâu rồi__vẩn vơ bay lượn đâu đó chăng, mong là theo kịp tiến trình của họ. Đầu Percy vẫn đau nhức từ khi bị Blackjack nện vó vào, những cậu không thù dai với con ngựa.

“Cậu có ý gì, tới lui dễ dàng ấy hả?” cậu hỏi. “Không phải là mấy con pegasus bay xuống hai cái cầu thang à?”

Annabeth gõ mấy đốt ngón tay lên mặt kính. “Đây là những khoang cửa ra vào, giống như trên một máy bay thả bom ấy.”

Percy nuốt nước bọt. “Ý cậu là tụi mình đang ngồi trên cửa ấy hả? Nếu nó bật ra thì sao?”

“Mình cho rằng chúng ta sẽ rơi chết. Những chúng sẽ không bật ra đâu. Gần như là thế.”

“Tuyệt thật.”

Annabeth phá lên cười. “Cậu biết sau mình lại thích chỗ này không? Không chỉ là cảnh quan thôi đâu. Chỗ này nhắc cậu nhớ về cái gì nào?”

Percy nhìn quanh: chuồng với lồng, đèn bằng Đồng Thiên Thai treo trên xà, mùi cỏ khô và tất nhiên là cả Annabeth đang ngồi ngay cạnh cậu nữa, gương mặt cô mờ ảo và xinh đẹp trong ánh sáng mềm mại màu hổ phách.

“Cái xe tải của sở thú đó,” Percy nhận định. “Cái mà chúng ta đã lái tới Las Vegas.”

Nụ cười của cô nói lên rằng cậu đã trả lời đúng.

“Lâu lắm rồi nhỉ,” Percy nói. “Bọn mình đã rất khổ sở, chật vật băng qua cả cái đất nước này để tìm tia chớp ngớ ngẩn ấy, kẹt trong một chiếc xe tải với một mớ động vật bị ngược đãi. Sao cậu lại nhớ nó thế?”

“Óc Tảo Biển à, bởi vì đó là lần đầu tiên chúng ta thực sự nói chuyện, cậu với mình. Mình kể với cậu về gia đình và...” Cô cởi chiếc vòng của trại ra, cái vòng có lồng chiếc nhẫn đại học của cha cô cùng những hạt đất sét đại diện cho mỗi năm cô ở Trại Con Lai. Giờ đây còn có một thứ khác lồng vào chiếc dây da: mặt dây chuyền san hô đỏ Percy đã tặng cô khi họ bắt đầu hẹn hò. Cậu đã mang nó về từ cung điện dưới đáy biển của cha mình.

“Và,” Annabeth tiếp lời, “nó nhắc mình nhớ là chúng ta đã quen nhau bao lâu rồi. Hồi đó tụi mình mười hai, Percy ạ. Cậu tin nổi không?”

“Không,” cậu thừa nhận. “Thế…cậu biết cậu thích mình từ lúc đó à?”

Cô cười gian. “Lúc đầu mình ghét cậu lắm. Cậu làm mình khó chịu. Rồi mình đã khoan dung với cậu mấy năm liền. Rồi__”

“Tốt, được rồi.”

Cô rướn người qua và hôn cậu: một nụ hôn tuyệt vười và đúng nghĩa mà không bị ai nhìn thấy cả__không có người La Mã, không có thần rừng bảo hộ la hét ồn ào.

Cô đẩy cậu ra. “Mình nhớ cậu, Percy.”

Percy cũng muốn nói với cô điều đó, nhưng có vẻ như câu bình luận ấy quá vớ vẩn. Khi ở bên La Mã, cậu sống sót được phần lớn là nhờ nghĩ về Annabeth. Mình nhớ cậu không thể diễn tả hết được.

Cậu nhớ lại lúc đầu tối khi Piper buộc các Eidolon rời khỏi tâm trí mình. Percy không hề nhận thức được sự hiện diện của bọn chúng tới khi cô sử dụng lời nói mê hoặc của mình. Sau khi các Eidolon đã bỏ đi, cậu cảm thấy như một đầu đinh nóng rẫy đã được rút ra khỏi trán mình. Cậu không nhận ra mình đau đến mức nào cho tới khi tên ám hồn bỏ đi. Sau đó tâm trí cậu trở nên rõ ràng hơn. Linh hồn cậu đã thoải mái ổn định lại trong thể xác cậu.

Ngồi đây với Annabeth cũng khiến cậu cảm thấy hệt như vậy. Vài tháng trước chắc có thể là những giấc mơ lạ lùng của cậu. Sự kiện ở Trại Jupiter có vẻ mơ hồ và không thực hệt như trận chiến với Jason khi họ đều bị kiểm soát bởi những tên Eidolon.

Cậu vẫn không hối hận khoảng thời gian ở Trại Jupiter. Nó đã khiến cậu mở mang tầm mắt về nhiều mặt.

“Annabeth,” cậu ngập ngừng bảo, “ở Rome các á thần có thể sống thanh bình suốt đời.”

Nét mặt cô trở nên thận trọng. “Reyna đã giải thích cho mình nghe rồi. Nhưng Percy à, cậu thuộc về Trại Con Lai. Cuộc sống khác kia__”

“Mình biết,” Percy nói. “Nhưng lúc mình ở đó mình thấy rất nhiều á thần sống không sợ hãi: trẻ con tới trường, các cặp yêu nhau kết hôn và gây dựng gia đình. Ở Trại Con Lai không có thứ gì được như thế. Mình cứ nghĩ về cậu với mình…và có lẽ một ngày nào đó khi cuộc chiến với lũ khổng lồ này kết thúc…”

Trong ánh đèn vàng thì thật khó nói nhưng cậu nghĩ là Annabeth đang đỏ mặt. “Ồ,” cô nói.

Percy sợ rằng mình đã nói quá nhiều. Có khi cậu đã dọa cô sợ khiếp vía với giấc mơ lớn về tương lai của mình. Cô luôn là người lên kế hoạch. Percy lặng lẽ tự nguyền rủa mình.

Từ khi quen biết Annabeth, cậu luôn cảm thấy mình hiểu quá ít về cô. Ngay cả sau khi họ đã hẹn hò được vài tháng mới quan hệ giữa họ vẫn luôn có cảm giác mới mẻ và tế nhị, như một bức tượng thủy tinh vậy. Cậu rất sợ sẽ làm gì sai và khiến nó tan vỡ.

“Mình xin lỗi,” cậu bảo. “Mình chỉ…Mình phải nghĩ thế để tiếp tục sống. Để tự cho mình chút hi vọng. Quên những cái mình nói đi__”

“Không!” cô bảo. “Không, Percy à. Trời ơi, thế thật là ngọt ngào. Chỉ là…chúng ta hẳn đã thiêu hủy mất nhịp cầu nối ấy mất rồi. Nếu chúng ta không thể sửa sai mọi thứ với người La Mã__thì, hai bên á thần vĩnh viễn vẫn chẳng hòa hợp đâu. Đó là lí do vì sao các vị thần tách chúng ta ra. Mình không biết chúng ta có bao giờ thuộc về nơi đó không nữa.”

Percy không muốn tranh luận nhưng cậu không thể để vuột mất hi vọng. Nó rất quan trọng__không chỉ với Annabeth và cậu mà là với tất cả các á thần. Phải có thể thuộc về hai nơi cùng một lúc. Sau tất cả mọi việc, đó mới thực sự là việc của các á thần__không phải chỉ có một chút thuộc về phàm thế hay là Đỉnh Olympus mà là cố gắng gây dựng thái bình với cả hai bên bản chất của mình.

Không may thay, điều đó khiến cậu nghĩ tới các vị thần, về cuộc chiến tranh mà họ đang phải đối mặt và giấc mơ của mình về cặp song sinh Ephialtes và Otis.

“Mình đang gặp ác mộng lúc cậu đánh thức mình,” cậu thừa nhận.

Cậu kể Annabeth nghe về những điều mình đã thấy.

Ngay cả phần phiền hà nhất cũng không khiến cô tỏ vẻ ngạc nhiên chút nào. Cô lắc đầu buồn bã khi cậu miêu tả tình trạng bị cầm tù của Nico trong chiếc hạp đồng. Một tia sáng giận dữ lóe lên trong mắt cô khi cậu kể với cô về việc lũ khổng lồ đang lên kế hoạch tàn phá Rome thật hoành tráng, bao gồm cả những cái chết đau thương của họ ở màn khai mạc.

“Nico là mồi nhử,” cô thì thầm. “Bè lũ Gaea chắc đã tìm cách nào đó bắt được nó. Nhưng chúng ta không biết chắc rằng chúng đang giữ nó ở đâu.”

“Đâu đó tại Rome ấy,” Percy bảo. “Nơi nào đó dưới lòng đất. Nghe bọn chúng bảo có vẻ như Nico vẫn còn sống được thêm mấy ngày nữa, nhưng không hiểu sao mà nó sống được lâu thế nếu không có oxi.”

“Năm ngày nữa, theo như Nemesis nói,” Annabeth bảo. “Ngày Kalends tháng bảy. Ít nhất hạn chót còn có nghĩa.”

“Kalends là gì?”

Annabeth nhếch mép cười như thể cô rất hài lòng khi họ trở lại mô típ thường ngày_ Percy không hiểu gì đó và bản thân cô sẽ giải thích mọi thứ. “Đấy chỉ là thuật ngữ La Mã chỉ ngày đầu tiên của tháng. Đó là từ khởi nguồn của từ lịch. Nhưng sao Nico lại sống được lâu đến thế? Chúng ta phải nói với Hazel.”

“Giờ hả?”

Cô ngập ngừng. “Không. Có thể đợi đến sáng mai. Mình không muốn chọi vô mặt con bé cái tin này vào lúc nửa đêm.”

“Lũ khổng lồ có nói tới một bức tượng,” Percy nhớ lại. “Và cái gì đó về một người bạn tài năng đang canh giữ nó. Dù người bạn ấy là ai thì ả ta làm Otis sợ. Bất kì kẻ nào có thể khiến cho một gã khổng lồ sợ…”

Annabeth liếc xuống một đường cao tốc ngoằn nghoèo trườn qua những ngọn đồi tối đen thăm thẳm. “Percy, gần đây cậu có gặp thần Poseidon không? Hay có nhận được dấu hiệu nào từ ông ấy không?”

Cậu lắc đầu. “Không có kể từ khi…Wow. Mình đoán mình chưa từng nghĩ về việc ấy. Từ cuộc chiến với các Titan. Mình đã gặp ông ấy ở Trại Con Lai nhưng là tháng tám năm ngoái. Một nỗi sợ lướt qua cậu. “Sao thế? Cậu gặp thần Athena sao?”

Cô không nhìn vào mắt cậu.

“Vài tuần trước,” cô thừa nhận. “Không…không hay lắm. Bà không giống bà. Có lẽ là kiểu tâm thần phân liệt Hy Lạp/La Mã mà Nemesis miêu tả. Mình không chắc. Bà ấy nói những điều khiến mình tổn thương. Bà bảo mình làm bà thất vọng.”

“Làm bà ấy thất vọng?” Percy không chắc cậu nghe đúng. Annabeth là một đứa con á thần hoàn hảo. Cô có mọi thứ mà một đứa con gái của Athena nên có. “Làm sao cậu có thể bao giờ__?”

“Mình không biết,” cô đau khổ nói. “ Trên hết mình cũng vừa có một cơn ác mộng. Nhưng nó không có nghĩa nhiều như giấc mộng của cậu.”

Percy đợi, nhưng Annabeth không nói chi tiết gì thêm. Cậu muốn khiến cô cảm thấy khá hơn và nói với cô là sẽ ổn thôi, nhưng cậu biết mình không thể. Cậu muốn sửa chữa mọi việc với cả hai người họ, để họ có thể có được một cái kết hạnh phúc. Sau từng ấy năm, ngay cả vị thần độc ác nhất cũng phải thừa nhận họ đáng được như thế.

Nhưng cậu có một cảm giác vô vọng rằng cậu chẳng thể làm gì để giúp Annabeth lúc này ngoài việc đơn giản là đây. Con gái của trí tuệ đi một mình.

Cậu thấy như thể mình đang bị kẹt và bất lực hệt lúc mình bị chìm xuống hố bùn.

Annabeth cố rặn ra một nụ cười nhàn nhạt. “Một đêm lãng mạn nào đấy hả? Không thêm điều gì tệ hại cho tới sáng mai nhé.” Cô hôn cậu lần nữa. “Rồi mình sẽ khám phá ra mọi thứ thôi. Mình đã có lại cậu. Giờ thì đó là vấn đề duy nhất.”

“Phải,” Percy nói. “Không nói gì thêm nữa về sự trỗi dậy của Gaea, Nico bị giữ làm con tin, thế giới đang đi đến hồi kết, lũ khổng lồ___”

“Im đi, Óc Tảo Biển,” cô ra lệnh. “ Ôm mình một lúc thôi.”

Họ ngồi ôm nhau, cảm nhận hơi ấm của nhau. Trước khi Percy nhận thức được gì, tiếng gầm của động cơ con tàu, ánh đèn mập mờ và cảm giác dễ chịu được ở bên Annabeth khiến mi mắt cậu nặng trĩu và cậu dạt vào giấc ngủ.

Khi tỉnh dậy, ánh sáng ban ngày đang tới từ cái sàn kính và một giọng con trai nói, “Ôi…Các cậu gặp rắc rối lắm lắm đấy.”


Fancy Cross Page Divider


[1] trông nó thế này
free-standing-fire-basket
[2] khổng lồ 1 mắt, con của Poseidon với Thoosa-1 nữ thủy thần, có khả năng chế tạo các đồ kim hoàn, xem thêm ở đây
[3] trông thế này
tóc đuôi ngựa
[4] F tức là f*ck, F bự mang nhiều nghĩa thô tục bậy bạ
[5] hình ảnh nó đây
lưỡi cưa tròn
[6] kiếm của Nico đây
âm thiết
[7] động cơ máy
Piston_Engine_img01
[*] Kalends của một tháng trong lịch La Mã là ngày trăng lên, ngày đầu tiên của một tuần trăng và cũng là ngày đầu tiên trong tháng, xem thêm ở đây